- Dị Tông Luận
- (Dị bộ tông luân luận: lược
thuật học thuyết của các bộ phái tiểu thừa)
HT. Thích Trí Quang dịch
Mục
Lục
- - (1)
- - (2)
- - (3)
- - (4)
- II. Dị Tông Luận
- A2. Nội Dung
- B1. Nói Các Bộ Phái (Dị Bộ)
- B2. Nói Học Thuyết (Tông Luân) Của
Các Bộ Phái Ấy
- C1. Mở Đầu
- C2. Nói Học Thuyết Của Các Bộ
Phái Thuộc Hệ Đại Chúng Bộ
- C3. Nói Học Thuyết Của Các Bộ
Phái Thuộc Hệ Thượng Tọa Bộ
- D1. Nói Phần Chính
- D2. Nói Phần Phụ
- - (Một)
- - (Hai)
- - (Ba)
- - (Bốn)
|
Ghi Sau Khi Duyệt Dị
Tông Luận
Trước khi đưa ra mấy kết luận và
mấy nghi vấn, tôi trích dịch mấy đoạn tài liệu sau đây.
1. Thiện kiến luật (1) nói, và xin
lược dịch như sau: ...Tại Câu thi na, giữa Sa la song thọ, sáng sớm ngày
rằm tháng 2 (2) , đức Thế tôn nhập vô dư niết bàn. Sau đó 7 ngày, tôn
giả Đại ca diếp từ nước Diệp ba (3) , cùng với 500 vị tỷ kheo, đi đến
Câu thi na để vấn an đức Thế tôn. Trên đường đi, gặp 1 đạo sĩ, tôn
giả hỏi, ông thấy Thầy tôi không? Đạo sĩ thưa, đức Cù đàm mệnh
chung đã 7 ngày rồi. Ngài niết bàn, người trời đều hiến cúng. Tôi ở
đó, lấy được cành thiên hoa Mạn đà này đây. Tôn giả Đại ca diếp và
các vị đại tỷ kheo nghe nói Phật niết bàn thì khóc ngất đi. Nhưng có
1 tỷ kheo tên Tu bạt đà ra ma ha ra (4) nói, thôi, khóc làm gì. Đức Thế tôn
tại thế, thường dạy điều này trong sạch, điều này dơ bẩn, điều này
phải làm, điều này không được làm. Nay thì hợp ý chúng ta lắm, muốn
làm gì thì làm, muốn không làm thì thôi. Tôn giả Đại ca diếp lặng người,
không quên được lời ấy, tự nghĩ, việc xấu chưa nổi lên, ta phải kiết
tập pháp tạng. Pháp tồn tại thì lợi ích chúng sinh. Tôn giả lại nghĩ,
khi Phật còn, Ngài đã nói với tôn giả A nan, ta niết bàn rồi thì pháp
và giới ta dạy chính là đức thầy cao cả của các vị. Vì vậy, ta phải
kiết tập pháp và giới ấy... Tôn giả liền chiêu tập chư vị tỷ kheo,
nói, một hôm trước đây, tôi nghe Tu bạt đà ra ma ha ra nói, đức Thế tôn
tại thế thì hay dạy điều này trong sạch, điều này dơ bẩn, điều này
phải làm, điều này không được làm. Nay thì hợp ý chúng ta lắm, muốn
làm gì thì làm, muốn không làm thì thôi. Kính bạch chư trưởng lão,
chúng ta phải kiết tập pháp tạng và giới tạng. Chư vị tỷ kheo bạch tôn
giả Đại ca diếp, xin ngài phải chọn lựa các vị tỷ kheo... Tỷ kheo diệt
tận ái dục thì có 500 mà thiếu 1 vị. Vị đó là trưởng lão A nan. Thiếu
ngài thì không thể tụng lại pháp tạng. Nhưng ngài ở địa vị đang còn
tu học. Tôn giả Đại ca diếp muốn khỏi bị chê trách, nên không chọn
ngài A nan... Chư vị tỷ kheo nói, ngài A nan tuy đang còn tu học, nhưng là
người đích thân từ Phật tiếp nhận tu đa la, kỳ dạ (5) . Nên mời
ngài cho đủ số 500, đó là ý kiến của các thánh tăng.
Chư đại đức tỷ kheo nghĩ nên kiết
tập pháp tạng ở đâu? Chỉ thành Vương xá đủ mọi điều kiện, chúng
ta nên đến đó an cư 3 tháng mà kiết tập luật tạng (và pháp tạng). Đừng
để những vị tỷ kheo khác cùng đến an cư ở đó. Tại sao, vì e ngại
những vị tỷ kheo ấy không phục tùng nên phải loại ra. Thế rồi tôn giả
Đại ca diếp bạch nhị kiết ma về việc này.
Vậy là từ ngày Phật niết bàn, 7
ngày sau đại hội (6) , 7 ngày sau nữa cúng dường xá lợi (7) . Qua nửa
tháng rồi, thấy đã gần ngày an cư, tôn giả Đại ca diếp nói, thưa chư
vị trưởng lão, đã đến lúc chúng ta phải đi đến thành Vương xá. Tôn
giả Đại ca diếp đem 250 vị tỷ kheo đi một đường khác, tôn giả A
nâu lâu đà (8) đem 250 vị tỷ kheo đi một đường khác. Còn tôn giả A
nan thì cầm y bát (9) của đức Như lai, với các vị tỷ kheo vây quanh, đi
qua nước Xá vệ, đến chỗ ở cũ của đức Như lai. Dân chúng Vương xá
thấy tôn giả A nan thì buồn khóc, hỏi đức Như lai ở đâu mà tôn giả
đến đây một mình? Họ gào khóc khi nghe tôn giả nói đức Như lai mới
niết bàn. Tôn giả đem đạo lý vô thường khuyên giải. Rồi đi vào Kỳ
viên, mở phòng của Phật, đem giường ghế của Ngài ra ngoài mà lau chùi,
lại vào phòng quét rưới... Xong rồi, đem giường ghế vào lại, đặt để
như cũ. Tôn giả phụng sự y như lúc Phật đang còn.
Rồi tôn giả đến Vương xá. Các
tôn giả Đại ca diếp và A nâu lâu đà cùng chư vị tỷ kheo cũng đã đến
đó. Tôn giả Đại ca diếp đến chỗ A xà thế vương, nói chư tăng nay phải
kiết tập pháp tạng và giới tạng. Vương thưa, tốt quá, xin cầu cho ý
nguyện của chư vị được thành đạt... Tôi xin nghe theo mọi sự sai bảo
của chư vị. Chư vị tôn giả xin trước hết thiết lập giảng đường.
Vương hỏi nên thiết lập ở đâu, chư vị thưa nên thiết lập cạnh thiền
thất núi Để bàn (10) . Vương thưa tốt lắm. Rồi với uy lực của
vương, giảng đường được hoàn thành tráng lệ trong thì gian rất ngắn.
Giường chiếu chăn màn đủ cả 500, và tất cả đặt xoay về hướng bắc.
Lại đặt 1 pháp tòa cao, xoay về hướng đông. Chư vị tỷ kheo nói với
tôn giả A nan, ngày mai kiết tập giới tạng, tôn giả chỉ là Tu đà hoàn
thì làm sao vào dự được. Vậy tôn giả phải cố gắng... Tôn giả A nan
liền từ đầu đêm quán thân (11) , quá giữa đêm vẫn chưa chứng gì.
Tôn giả nghĩ, ngày trước đức Thế tôn có nói, ông đã tu công đức, nếu
nhập định thì mau thành La hán. Phật dạy phải đúng. Tâm ta tinh tiến
thái quá. Ta phải trung dung. Tôn giả từ chỗ kinh hành (12) bước xuống rửa
chân, rồi vào phòng ngồi trên giường, muốn nghỉ một chút nên nghiêng
mình muốn nằm. Nhưng chân đã rời đất mà đầu chưa chấm gối, giây
phút đó liền được đạo quả La hán... Tôn giả Đại ca diếp đến ngày
2 tháng giữa (17 tháng 6) (13) , ăn ngọ rồi thu xếp y bát, tập hợp tại
pháp đường (14) . Tôn giả A nan không cùng vào. Để chư vị vào hết rồi,
tôn giả vận dụng thần thông, dũng xuất ngay nơi chỗ đã được để
cho.
Chư vị thánh chúng ngồi rồi, tôn
giả Đại ca diếp hỏi, chư vị trưởng lão, nên kiết tập pháp tạng trước
hay giới tạng trước? Chư vị thánh chúng nói, giới tạng là mạng sống
của Phật pháp, giới tạng còn thì Phật pháp còn, vậy nên kiết tập giới
tạng trước. Vì thế, tôn giả Đại ca diếp tác bạch kiết ma, cử tôn
giả Ưu ba ly tụng lại giới tạng... Sau đó lại tác bạch kiết ma, cử
tôn giả A nan tụng lại pháp tạng... (Chính 24/673 -- 675).
2. Tam luận huyền nghĩa (15) nói,
và xin lược dịch như sau: ...Như lai nhập diệt ngày rằm tháng 2, chư thánh
đệ tử ngày rằm tháng 4 (16) ở trong núi Kỳ xà quật của thành Vương xá,
kiết tập 3 tạng. Ngay lúc bấy giờ đã có tên của 2 bộ. Một là Thượng
tọa bộ, do ngài Đại ca diếp làm thượng tọa. Ngài này hơn ngài Trần
như 1 hạ, lại được Phật đem chánh pháp phó thác, nên gọi là Thượng
tọa bộ. Ngài Đại ca diếp lãnh đạo chỉ có 500 vị, luận Trí độ nói
1.000 vị. Hai là Đại chúng bộ, là đại chúng ở ngoài cương giới kiết
ma, có cả 10.000 vị, do La hán Ba sư ba (16B) làm chủ tọa. Tên ngài này có
nghĩa là Rơi nước mắt, vì ngài thương chúng sinh đau khổ mà rơi nước
mắt luôn. Ngài là 1 trong 5 vị tỷ kheo (đầu tiên), tuổi cao hơn cả ngài
Đại ca diếp, giáo thọ cho đại chúng ở ngoài cương giới kiết ma. Do vậy
mà có 2 chúng. Chúng của ngài Đại ca diếp có 500 La hán, vào trước trong
cương giới kiết ma để kiết tập 3 tạng. Sau đó nhiều vị cũng đến
để kiết tập 3 tạng, nhưng ngài Đại ca diếp không cho ai vào cả. Vì 2
lý do: 1, 500 vị toàn là người thông minh, 2, đã cử hành kiết ma rồi...
Thế rồi 116 năm sau, có người con của một thuyền trưởng tên là Đại
thiên, oai nghiêm, thông minh, gia nhập Phật pháp, làm 2 việc. Một, đem các
kinh đại thừa xếp vào trong 3 tạng mà giảng giải. Khi chư vị La hán kiết
tập pháp tạng đã lựa bỏ các kinh ấy. Đại chúng bộ thì dùng các kinh
đại thừa, còn Thượng tọa bộ thì không dùng. Do vậy mà nổi lên tranh
biện, thành ra 2 bộ (căn bản). Hai, ngài Đại thiên tự soạn 1 bài chỉnh
cú :"Kẻ khác dẫn dụ, còn sự không biết, còn điều hoài nghi, nhờ
người giúp vào, và chính thánh đạo, cũng có nhờ tiếng: như thế gọi là,
Phật giáo chân thật" (17) . Rồi đem bài chỉnh cú này đặt sau phần
tụng giới, bố tát tụng giới rồi tụng bài chỉnh cú ấy... Về sau,
ngài Đại thiên đến nước Ương quật đa la, 1 quốc gia ở phía bắc
thành Vương xá, vẫn đem các kinh đại thừa như Hoa nghiêm, Bát nhã, xếp
vào 3 tạng mà giảng thuyết. Bấy giờ có người tin, có người không tin.
Ai không tin thì nói chỉ 3 tạng do ngài A nan cùng 2 ngài nữa tụng lại mới
đáng tin, ngoài 3 tạng ấy, các kinh đại thừa đều không đáng tin. Ai tin
kinh đại thừa thì vì 3 lý do : một, lúc bấy giờ vẫn còn có những người
đã đích thân nghe Phật thuyết các kinh đại thừa ấy, hai, tự nghĩ theo
lẽ thì phải có các kinh đại thừa, ba, tin vào lời thầy nói... (Chính
45/8).
3. Phân biệt công đức luận (18) nói,
có 2 đoạn xin lược dịch như sau.
Đoạn 1 : ... Ba tạng là khế kinh,
tỳ ni, a tì đàm... Còn Tạp tạng thì không phải 1 người nói, mà hoặc
Phật nói, hoặc đệ tử Phật nói, hoặc chư thiên tán dương, hoặc nói
đời trước trong 3 vô số kiếp của Bồ tát, văn nghĩa không phải nhất
loại, và nhiều hơn cả 3 tạng, nên gọi là Tạp tạng. Lại nữa, khi Phật
còn ở đời, (đại loại như) A xà thế vương hỏi Ngài về việc làm của
Bồ tát, Ngài dạy cho đủ cả... Các kinh phương đẳng (đại thừa) toàn
ở trong Bồ tát tạng. Tạng này, lúc Phật còn, Ngài đã mệnh danh là Đại
sĩ tạng. Tôn giả A nan tụng ra là 4 tạng hiện nay. Hợp (với Bồ tát tạng
nữa) mà nói là 5 tạng... Chỉ có ngài Đại thiên là bậc đại sĩ, kỳ
dư toàn là người tiểu căn. Do vậy mà đại thừa khó có ai đương nổi,
phần nhiều xu hướng thanh văn. (Chính 25/32).
Đoạn 2: ...Tăng nhất a hàm vốn
có 100 sự, ngài A nan truyền cho ngài Ưu đa la. Mười hai năm sau ngày được
tụng ra (trong đại hội 1 của kiết tập 1) thì ngài A nan nhập diệt. Bấy
giờ chư tỷ kheo chỉ thích tu thiền định, không ưa học thuộc lòng, sau
đó ngài Ưu đa la cũng nhập diệt, do vậy mà kinh này mất 90 sự. Thầy
trò truyền cho nhau là khẩu truyền, không cho chép ra văn bản, nên bấy giờ
khẩu truyền chỉ còn 11 sự; riêng của Thuyết hữu bộ không có tự văn
và sự 11. Đệ tử ngài Ưu đa la là ngài Thiện giác, do thầy khẩu truyền
mà học thuộc lòng kinh này, được 11 sự thì ngài Ưu đa la nhập diệt.
Nay 3 tạng hiện hành toàn là của ngài Thiện giác khẩu truyền (Chính
25/34). Để phụ với đoạn này, tôi xin trích 1 đoạn sau đây, của Phú
pháp tạng nhân duyên truyện: Ngài Thương na hòa tu (đệ tử của ngài A
nan) nói với đệ tử của mình là ngài Ưu ba cúc đa (thầy của A dục
vương): 77.000 (bài tụng) về bản sinh, 10.000 (bài tụng) về luận tạng,
80.000 (bài tụng) về luật tạng, các pháp như vậy ta nhập diệt thì cũng
diệt theo ta (Chính 50/304).
Trên đây, tài liệu 1 và 2, chứng
tỏ vì phong cách triệu tập kiết tập 1 của ngài Ca diếp mà làm cho kiết
tập 1 có 2 đại hội (19) . Rồi 2 đại hội ấy tụng lại Phật thuyết mà
đối với đại thừa thì bên bỏ bên lấy. Còn tài liệu 3 chứng tỏ Pg
không phải chỉ có 3 tạng độc quyền của Thượng tọa bộ (hay đại hội
1 của kiết tập 1), mà còn có Tạp tạng (chuyên nói về bản sanh) và Đại
sĩ tạng của Đại chúng bộ (hay đại hội 2 của kiết tập 1). Lại chứng
tỏ Pg bị thất lạc rất nhiều, chứ không phải chỉ có như các Tạng hiện
nay, nhất là tạng Paly.
*
Tiếp theo mấy tài liệu trên đây,
nay xin nói về mấy vấn đề.
Một là vấn đề Đại hội 2 của
kiết tập 1, tức Đại chúng bộ. Chỉ cần nghe ngài Thế hữu kể lại những
mục của tư tưởng bộ này trong luận Dị tông này, cũng đủ thấy Đại
hội 2 quyết định phải có tụng lại Bản sinh tạng và Đại sĩ tạng,
nghĩa là tụng lại đại thừa ẫ tức đại thừa cũng là Phật thuyết.
Ấy là chưa nói không hẳn Đại hội 1 của kiết tập 1 hoàn toàn không tụng
lại đại thừa. Thế giới Pg thông sử, tập thượng, trang 135, đã kể ra
danh mục và tư tưởng của đại thừa trong các bộ A hàm. Ngần ấy cũng
đủ thấy Đại hội 2 của kiết tập 1 là 1 vấn đề, mà là 1 vấn đề
còn trọng đại hơn cả Đại hội 1 của kiết tập 1.
Ở đây cũng nên nói về văn bản
3 tạng và các tác phẩm của Đại chúng bộ, nghĩa là nói về văn bản liên
hệ Đại hội 2. Hiện nay trong Hán tạng, chắc chắn nhất của Đại chúng
bộ là Ma ha tăng kỳ luật (20) . Nhưng chắc chắn Hán tạng và Tạng tạng
còn có không ít văn bản của Đại chúng bộ. Tôi không biết gì về Tạng
tạng, nhưng Hán tạng, nói xác hơn là Pg Trung hoa, thì có 2 điều phải cực
kỳ thống trách. Điều một, Pg Trung hoa có rất nhiều Phạn bản, do tăng
sĩ Ấn mang đến và tăng sĩ Tàu mang về. Sử liệu mà tôi biết, cho thấy
Phạn bản chưa dịch nhiều hơn đã dịch. Gồm cả 2 số ấy lại thì số
lượng thật đáng ngợp. Vậy mà rồi mất hết. Không hiểu tại sao chép
mà đem đến hay mang về, gian nan biết bao nhiêu, vậy mà làm được, nhưng
không làm được cái việc bảo tồn? Điều hai, không hiểu tại sao không
đem ngay Phạn bản mà dạy cho tăng sĩ? Trung hoa, từ sau ngài Pháp hiển, nhất
là từ ngài Huyền tráng sắp đi, người thông hiểu Phạn bản không ít. Vậy
mà chỉ lo phiên dịch, trong các tự viện không tổ chức dạy Phạn bản.
Phạn bản nếu được dạy cho tăng sĩ Trung hoa, thì Phạn bản được hiểu
và được còn: ích lợi biết bao. Xưa nay cũng đã có người thắc mắc và
phiền trách 2 điều trên đây. Phải chi dân tộc Trung hoa mà như dân tộc
Nhật bản chẳng hạn, thì thế giới ngày nay Phạn bản dồi dào nhất
nhì chính là Trung hoa. Điều ấy khiến cho thấu hiểu được bao nhiêu là
vấn đề về Pg, trong đó có vấn đề Đại hội 2 và Đại chúng bộ, có
vấn đề đại thừa.
Hai là vấn đề ngài Đại thiên.
Ngày nay học giả ai cũng thấy ngài là nhân vật trọng đại đối với đại
thừa ẫ Trọng đại đến nỗi bị vu khống và thóa mạ không ít, từ
phía Thượng tọa bộ mà nói xác hơn là Thuyết hữu bộ, sự vu khống và
thóa mạ đã biến thành phản chứng tính cách trọng đại của ngài Đại
thiên. Ngài, không những nêu lên sự bất toàn của quả vị La hán bằng 5
sự (tức chỉ nhận Phật quả mới toàn hảo), mà công đức của ngài
còn thọ trì Tạp tạng và Đại sĩ tạng (như tài liệu 3 nói), còn phá
tính cách độc tôn nhưng thiếu sót của 3 tạng của Đại hội 1 bằng cách
xếp đại thừa (gồm có 2 tạng) vào 3 tạng thành 5 tạng (như tài liệu 2
và 3 nói). Nhân cách của ngài thì thế nào? Cứ nói ngay như khi A dục
vương cung thỉnh giới sư cho vương tử Ma hê đa thì "chúng tăng thôi
cử ngài Mục kiền liên tử đế tu (Moggali Tissa) làm hòa thượng, ngài Ma
ha đề bà (Mahadeva = Đại thiên) làm a xà lê truyền thọ thập giới, ngài
Mạt xiển đề (Majjhantika) làm a xà lê truyền thọ cụ túc giới cho vương
tử Ma hê đa (Mahinda) (Thiện kiến luật, Chính 24/682). Rồi khi A dục vương
và ngài Mục kiền liên tử đế tu thỉnh cầu các vị trưởng lão đi hoằng
pháp các địa phương (21) , thì thỉnh cầu ngài Đại thiên đến Ma hê sa
mạt đà la (Mahisakamandala)" (Thiện kiến luật, Chính 24/684).
Ba là vấn đề 3 tạng Paly. Điều
có thể quả quyết là 3 tạng ấy là sản phẩm của cái gọi là kiết tập
3 (22) . "Chúng tăng tập hợp 60 ngàn. Cuộc tập họp này ngài Mục kiền
liên tử đế tu làm thượng tọa, tuyển chọn những bậc thông suốt 3 tạng
và chứng đắc 3 minh thì được một ngàn. Y như lần thứ 1 tôn giả Đại
ca diếp chiêu tập tăng chúng (23) , cũng như lần thứ 2 tôn giả Tu na câu
(24) kiết tập giới tạng. Lần kiết tập pháp tạng thứ 3 này 9 tháng
thì hoàn tất... Khi ngài Mục kiền liên tử đế tu sắp nhập diệt thì
phó thác cho đệ tử là ngài Ma hê đa đem luật tạng (và cả 3 tạng) đến
nước Sư tử..." (Thiện kiến luật, Chính 24/684). Như vậy là hơn 2 bách
kỷ sau Phật nhập diệt, 3 tạng Paly mới được biên tập. Nhưng 3 tạng
Paly chắc chắn không phải là 3 tạng của Đại hội 1 của kiết tập 1 tụng
ra, mà 3 tạng ấy chỉ là của Thượng tọa bộ diễn biến đến thời đại
A dục vương (25) . Chủ tọa kiết tập 3 tạng Paly, ngài Mục kiền liên tử
đế tu, là người Thượng tọa bộ mà đồng tình với hệ Phân biệt thuyết
của Đại chúng bộ, thừa nhận có giới hạn đối với tư tưởng bộ
ấy (26) . Những sự kiện này dĩ nhiên phải ảnh hưởng đến 3 tạng
Paly.
Nhưng cùng thời đại với 3 tạng
Paly, theo truyền thuyết của Pg Tây tạng, thì có 4 bộ phái ở 4 địa
phương sử dụng 4 ngữ văn khác nhau. Để làm gì? Hẳn nhiên là để kiết
tập 3 tạng mà 4 bộ phái đã khẩu truyền trước đó: "Đại chúng bộ
phát triển ở địa phương Maharastra, ngữ văn thánh điển là Maharastra; Thượng
tọa bộ lấy Ujayana làm trung tâm, ngữ văn thánh điển là Paisaci; Chánh lượng
bộ phát triển ở một dãy Surasena, ngữ văn thánh điển là Apabhramsa; Thuyết
hữu bộ thịnh lên ở Kasmira và Gandhara, ngữ văn thánh điển là Samkrta.
Nay biết ngữ văn Paisaci chính là ngữ văn Paly; thời đại A dục vương,
ngữ văn này là của Pg dãy Ujayana" (Nguyên thỉ Pg thánh điển chi tập
thành, trang 46). Như vậy, cũng như 3 tạng của các bộ phái khác, 3 tạng
Paly không phải nguyên thỉ, nghĩa là không phải của Đại hội 1 của kiết
tập 1 tụng ra, không phải đầy đủ, không phải tinh thuần (với những
việc của A dục vương được chép trong đó). "Thế nhưng 3 tạng Paly
ngày nay rất quí báu. Vì chỉ có 3 tạng ấy là được bảo tồn nguyên vẹn.
Ngữ văn Paly lại là một phương ngôn cổ của Ấn độ, nghiên cứu rất
tiện. Có điều mọi thánh điển hiện hữu toàn là sắc thái bộ phái, vậy
nghiên cứu Pg nguyên thỉ thì không thể chỉ hạn chế vào 3 tạng
Paly" (Nguyên thỉ Pg thánh điển chi tập thành, trang 48).
*
Bây giờ lặp lại cũng có, mới
nói cũng có, tôi xin đưa ra một vài kết luận và nghi vấn. Đây là mấy
kết luận.
1. Đại hội 2 của kiết tập 1 rất
quan trọng. Phải bỏ thành kiến khinh thường như xưa nay. Phải tìm hiểu
về Đại hội này -- ít nhất cũng qua Đại chúng bộ. Kinh sách Đại chúng
bộ cũng không ít (27) dầu thất lạc hay lẫn lộn quá nhiều.
2. Về 3 tạng Paly, rất quí vì độc
nhất còn nguyên vẹn. Nhưng không phải nguyên thỉ, ít ra cũng chưa phải
chép lại 3 tạng của Đại hội 1 của kiết tập 1 tụng ra.
3. Phật thuyết chắc chắn số lượng
rất nhiều. Ngài thuyết đến 50 năm, cho đủ thành phần, có phải ít đâu.
Số lượng không ít, mà chất lượng lại càng chắc chắn đa dạng. Gồm
hết tất cả 3 tạng Paly, Trung hoa và Tây tạng, dẫu chưa lựa chọn chân
giả đi nữa, cũng vẫn chưa phải đầy đủ của Phật thuyết.
Và đây là mấy nghi vấn.
1. Nếu đại thừa không phải Phật
thuyết, nghĩa là trong nguyên thỉ Pg đời Phật, và trong nguyên thỉ Pg của
2 đại hội của kiết tập 1, mà không có kinh luật luận đại thừa, thì
làm sao có những tư tưởng như của Đại chúng bộ?
2. Tại sao chính từ Thượng tọa bộ,
nói chính xác là Thuyết hữu bộ, lại nói La hán bất toàn hơn cả 5 sự
Đại thiên?
3. Và tại sao cũng chính từ hệ Thượng
tọa bộ (chứ không phải hệ Đại chúng bộ) mà tư tưởng về Ngã đã
có, và có không phải chỉ một dạng? (28)
- Mồng 6 tháng 4, 2537
- Trí Quang
Dẫn
Nhập [^]
Tài liệu tham khảo: Dẫn nhập Khởi
tín luận (mục 8) của tôi, Phật học nghiên cứu (bài 11) của Lương Khải
Siêu, Chính 14/501, 25/30-32, 43/1, 45/8.
(1) Dị tông luận (Dị bộ tông
luân luận) là 1 trong vài tác phẩm được thấy trong Hoa tạng, nói về học
thuyết của các bộ phái tiểu thừa. Các bộ phái này, có 20 tất cả, dĩ
nhiên phong phú đến phức tạp về học thuyết. Học thuyết ấy chắc chắn
cho thấy giai đoạn trước đó là gì và giai đoạn sau đó là gì. Vậy mà
tài liệu để được biết đến thì quá ít. Dị tông luận đã giúp được
phần nào trong việc này.
Dị tông luận có 3 bản Hoa dịch.
Bản 1 chưa xác định được dịch giả, gọi tắt là Tần dịch. Bản 2
là của ngài Chân đế, gọi tắt là Lương dịch. Bản 3 là của ngài Huyền
tráng, gọi tắt là Đường dịch. Bản này là định bản, được dịch vào
ngày tiền Vu lan 1226 (682), và do chính đại sư Khuy cơ giải thích bằng
cách vừa tham dự công việc phiên dịch của thầy vừa nghe thầy giảng giải
mà ghi chép lại, mệnh danh Dị bộ tông luân luận thuật ký, hiện có
trong Vạn 83/211-234, và gọi tắt là Thuật ký.
Bản dịch của tôi lấy Đường dịch
làm chính văn, nhưng đối chiếu rất nhiều với Tần dịch, nhất là Lương
dịch, lại căn cứ rất nhiều vào Thuật ký. Có điều từ C2 trong B2 cho
đến hết, Thuật ký mà Vạn 83/228-233 chép thì nghĩa vẫn khá, dẫu rằng
có chỗ quá lược; nhưng văn đáng ngờ đến nỗi có thể quyết chắc
không phải của đại sư Khuy cơ. Tựu trung, tệ nhất là trọn phần D1
trong C3 nói về học thuyết của Thuyết hữu bộ (tên gọi tắt của Thuyết
nhất thế hữu bộ), không giúp gì bao nhiêu cho sự tham khảo, nên tôi đành
tự thực kỷ lực mà không có gì bảo đảm. Những bản giải thích sau
này tôi biết có, nhưng lúc này tìm mượn không ra.
Tác giả Dị tông luận là bồ tát
Thế hữu, thuộc Thuyết hữu bộ. Niên đại của ngài là bách kỷ 4 sau Phật
nhập niết bàn. Thế hữu cũng dịch là Thiên hữu, hoặc dịch âm là Bà
tu mật. Ngài là người mà Thiền tông nói là tổ thứ 7, còn tựa của Bà
tu mật tập thì nói sẽ nối đức Từ tôn mà thành Sư tử như lai. Thế
nhưng ngài Thế hữu thủ tọa kiết tập Đại tỳ bà sa (bách kỷ 7 sau Phật
niết bàn) thì không phải là ngài. Tác phẩm của ngài trong Hoa tạng thấy
có Phẩm loại túc luận và Giới thân túc luận (là 2 trong số 6 túc luận),
Bà tu mật tập và luận này. Xét văn cách luận này mà thôi cũng đủ để
thấy ngài là một tác giả bác học, nghiêm chỉnh và tự tín. Nội cái việc
đối với ngài Đại thiên ngài không có lời chữ nào cho thấy có ý công
kích, cũng đủ chứng tỏ phong cách của ngài.
(2) Có mấy vấn đề liên quan đến
sự phân hóa bộ phái cần phải nêu lên ở đây. Trước hết, hãy nói bối
cảnh của sự phân hóa ấy. Nguyên nhân phân hóa mà luận này nói, chỉ
là nói bản thân Phật giáo. Kỳ thật sự phân hóa ấy bị bức xúc, và bức
xúc không ít, bởi thời thế lúc ấy. Phâểt niết bàn 152 năm (trước
dương lịch 327 năm) thì A lịch sơn đại xâm nhập Ấn độ, khiến xứ này
chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp không ít. Rồi hơn 50 năm sau, A dục
vương xuất hiện, thống nhất Ấn độ, làm cho Phật giáo trước đó chỉ
lưu hành một dãy phụ cận Ma kiệt đà (Trung Ấn) mà nay có mặt khắp cả
những nơi phong tục và ngôn ngữ khác nhau. Bối cảnh phân hóa của các bộ
phái là như vậy : phân hóa mà thích ứng để tự tồn.
Thứ hai, hãy nói nguyên nhân của sự
phân hóa bộ phái. Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ không phải mới
phân hóa khi có ngài Đại thiên, với 5 sự do ngài đưa ra. Mà 2 bộ phái
này đã có ngay khi ngài Ca diếp triệu tập đại hội 1 của kiết tập 1,
và trách nhiệm phải được qui cho chính ngài Ca diếp. Còn 5 sự của ngài
Đại thiên thì rõ ràng đánh giá lại đạo quả La hán, cho thấy đạo quả
này rất bất toàn. Sự đánh giá này Dị tông luận cho thấy được tán
đồng không ít. Còn nhân cách của ngài Đại thiên thì xưa nay hầu hết nói
theo Đại tỳ bà sa (cuốn 99), một sự phản tuyên truyền quá ấu trĩ.
Ngay đại sư Khuy cơ khi giải thích luận này cũng vậy, dầu ở tác phẩm
khác là Du dà lược soán (Chính 43/1) lại nói khá trái lại, (coi phụ lục
1).
Thứ ba, hãy nói công tội của sự
phân hóa bộ phái. Lịch sử có thể có trường hợp có phân hóa mới có
tiến hóa. Nên nhìn một mặt thì phân hóa bộ phái là có tội, nhưng nhìn
mặt khác thì sự phân hóa ấy làm cho Phật giáo phong phú. Đoạn kinh Văn
thù vấn (phụ lục 2) đã cho nhận thức này. Phụ lục ấy còn cho thấy sự
phân hóa bộ phái là lấy trí tuệ (bát nhã) làm sở trường, suy diễn và
phát kiến về Phật thuyết, nhưng trọng Luận hơn Kinh đến nỗi cuối cùng
Kinh lượng bộ mới chấm dứt tình trạng này.
(3) Có một sự kiện mà tôi muốn
nói sự nhận xét của tôi, bổ túc cho đoạn 2 trên đây. Ấy là sự phân
hóa bộ phái trong thời đại A dục. Dị tông luận nói sự phân hóa bắt
đầu từ thời đại này. Lại nói thời đại này là đầu bách kỷ 2 sau
Phật niết bàn. Nhưng thời đại này các bộ phái đã và đang phân hóa cực
điểm, đến nỗi Dị tông luận đã ghi Thượng tọa bộ cũng phân ra Thuyết
hữu bộ. Và sự kiện quan trọng là các bộ phái bắt đầu chép ra văn bản
3 tạng mà mình học thuộc lòng, bằng những ngữ văn của địa phương giáo
hóa. Tây tạng tương truyền có đến 4 ngữ văn: ngữ văn Maharastra, của
Đại chúng bộ ở địa phương này; ngữ văn Paisaci (Paly) của Thượng tọa
bộ ở dãy Ujayana; ngữ văn Apabhramsa, của Chánh lượng bộ ở dãy
Surasena; ngữ văn Samkrta, của Thuyết nhất thế hữu bộ ở Kasmira và
Gandhara. A dục vương không những là hộ chủ của 3 tạng Paly mà còn truyền
bá 3 tạng này. Sự kiện này, nhất là chính kinh tạng Paly chép chuyện A dục
vương không ít, chứng tỏ nay gọi 3 tạng ấy là nguyên thỉ thì không đúng.
(4) Nay, hãy tạm gác những nhận
xét và kết luận của một số học giả mà nhìn thẳng vào học thuyết
các bộ phái do Dị tông luận lược thuật, thì thấy như sau.
Đối với Tiểu thừa, La hán là
hoàn toàn. Phật cũng chỉ là một vị La hán mà thôi. Nói trái lại thì
là đầu mối tranh luận và phân hóa. Thế nhưng không phải chỉ hệ Đại
chúng bộ với ngài Đại thiên mới nói trái lại, mà hệ Thượng tọa bộ,
kỳ lạ nhất là Tuyết sơn bộ do Thượng tọa bộ chuyển danh, cũng nói
như vậy. Càng kỳ lạ hơn nữa là Độc tử bộ nói đến cái "bổ đặc
dà la", kỳ lạ đến ngạc nhiên hơn nữa là Kinh lượng bộ nói đến
cái "thắng nghĩa bổ đặc dà la". Chưa hết, lui lại, Thuyết hữu
bộ đã nói: "Phật đà với Thanh văn Duyên giác không khác nhau về giải
thoát, nhưng thánh đạo của tam thừa thì không đồng đẳng". Thuyết
hữu bộ còn hạ giá quả vị La hán hơn cả 5 sự Đại thiên. Như vậy có
thể nói vắn tắt, qua học thuyết của các bộ phái thì Phật quả mới
hoàn toàn, La hán chỉ đồng nhất một phần với Phật quả về đoạn đức
(giải thoát phiền não) nhưng không đồng nhất với Phật quả về trí đức
(chứng ngộ các pháp) và ân đức (giáo hóa chúng sinh). Thế nên chẳng phải
Đại chúng bộ mới liên quan Đại thừa. Chúng ta có thể thấy bóng dáng
Hoa nghiêm Pháp hoa Bát nhã nơi Đại chúng bộ, và, lạ thay, thấy bóng
dáng Niết bàn nơi Độc tử bộ và Kinh lượng bộ. Còn nữa, Pháp tạng bộ
nói 5 pháp tạng Kinh, Luật, Luận, Minh chú, Bồ tát, thì đích thị không
những liên hệ Đại thừa mà còn là Đại thừa mật tông xa xuôi về sau.
Các bộ này toàn là hệ Thượng tọa bộ cả. Đặc biệt hơn nữa, qua sự
phiên dịch về Luận của ngài Huyền tráng và sự phiên dịch về Luật của
ngài Nghĩa tịnh, trong Hoa tạng, Thuyết hữu bộ tương đối hoàn bị hơn
cả, và rất dễ dàng thấy bộ này là tiền thân của pháp tướng trong
Duy thức học.
Phụ
Lục 1 [^]
- Trích Du Dà Lược Soán,
- Chính 43/1
Thích luận giải thích như sau. Phật
niết bàn rồi việc ma lộn xộn là sau khi Phật nhập niết bàn, trong bách
kỷ 1, do ngài Đại thiên mà có sự tranh biện về 5 sự. Ngài Đại thiên
danh cao đức lớn, đạo quả đã chứng mà tuổi tác đang nhỏ, vương hầu
khâm phục phong cách, tăng chúng ngưỡng mộ đạo hạnh, siêu quần bạt tục
nên phàm phu tục tử lúc ấy đố kﬠvu khống ngài làm 3 tội nghịch.
Tình trạng kịch liệt thêm vì 5 sự [mà ngài đưa ra]. Ngài Đại thiên có
bài chỉnh cú sau đây.
- Kẻ khác dẫn dụ,
- còn sự không biết,
- còn điều hoài nghi,
- người khác giúp vào,
- và chính thánh đạo
- cũng có nhờ tiếng:
- như thế gọi là
- Phật giáo chân thật.
Ngài Đại thiên giải thích [sự 1,
kẻ khác dẫn dụ là] các vị La hán không có 2 sự phiền não và xuất
tinh, nhưng bị ma vương dẫn dụ, hoặc bị ma vương đem tinh khí vấy bẩn
vào y, làm như tinh xuất. Các vị khác phỉ báng rằng Đại thiên phàm phu
ngu tối, bị cảnh mê hoặc mà tâm ô nhiễm, ban đêm tư tưởng mà xuất
tinh bẩn y rồi đổ cho ma vương quấy phá. Thế là thành ra mâu thuẫn chống
đối
Ngài Đại thiên giải thích [sự 3,
còn điều hoài nghi là] các vị thấy biết đế lý thì cái nghi đối với
chân lý, tức cái nghi của phiền não, tuy bị diệt trừ cả rồi, nhưng
[ban đêm hay nhìn xa] nghi cây trụi là người, thì cái nghi đối với sự
thường này vẫn còn. Các vị khác phỉ báng rằng Đại thiên phàm phu ngu
tối, không hiểu giáo lý chân thật, nói các bậc thánh còn có nghi hoặc.
Thế là thành ra mâu thuẫn chống đối.
Ngài Đại thiên giải thích [sự 2,
còn sự không biết là] sự không biết có 2 thứ: có ô nhiễm và không ô
nhiễm; các vị La hán không còn sự không biết có ô nhiễm, nhưng sự không
biết không ô nhiễm thì vẫn còn. Các vị khác phỉ báng rằng Đại thiên
phàm phu ngu tối, không hiểu giáo lý chân thật, nói bậc La hán còn có sự
không biết không ô nhiễm. Thế là thành ra mâu thuẫn chống đối.
Ngài Đại thiên giải thích [sự 4,
người khác giúp vào là] các bậc lợi căn như ngài Xá lợi phất vân vân
mà còn nhờ thiện hữu giúp cho vào đạo, vậy có người nhờ người khác
dẫn giúp vào đạo là điều chắc chắn. Các vị khác phỉ báng rằng Đại
thiên phàm phu ngu tối, không hiểu giáo lý chân thật, nói những bậc lợi
căn như ngài Xá lợi phất vân vân mà còn nhờ người khác dẫn giúp vào
đạo, mà còn không tự biết đã chứng vào đạo quả La hán, [nhờ Phật
nói cho mới biết], huống chi các người. Thế là thành ra mâu thuẫn chống
đối.
Ngài Đại thiên giải thích [sự 5,
và chính thánh đạo cũng có nhờ tiếng là] các bậc tu tập từ đời trước,
vì tu đã nhiều đời nên khi sắp chứng đạo quả thì nhân Phật nói khổ
nói không vân vân, nghe là ngộ nhập đạo lý, là chứng nhập thánh quả.
Như vậy dưới lời Phật nói, có nhiều người hiện tại chứng quả, lại
có nhiều người chán khổ, tự kêu lên cái tiếng chán khổ mà thánh đạo
phát hiện. Các vị khác phỉ báng rằng Đại thiên phạm các tội nghịch,
nhưng chưa mất thiện căn nên biết sợ sa đọa, đêm ngủ hay kêu khổ
quá, đệ tử cho là bị bịnh nên sáng ra hỏi thăm, Đại thiên nói không
bịnh, đệ tử hỏi vậy tại sao kêu khổ, Đại thiên đáp rằng ngày xưa
tuổi nhỏ đạo nhập tùy tâm, ngày nay tuổi lớn đạo sinh khó tùy, nếu
không kêu lên cái tiếng khổ quá thì đạo nhờ đâu mà có. Vì [các vị
khác] phỉ báng như vậy mà mâu thuẫn chống đối lung tung, nên nói Phật
niết bàn rồi việc ma lộn xộn.
- Trích Kinh Văn Thù Vấn, Cuốn Hạ
- Chính 14/501
Lúc ấy ngài Văn thù thưa rằng, bạch
đức Thế tôn, sau khi đức Thế tôn nhập niết bàn thì đệ tử của Ngài
phân hóa bộ phái như thế nào? bộ phái căn bản là gì? Đức Thế tôn dạy:
Văn thù, sau này đệ tử của Như lai có 20 bộ phái, [sự kiện này] giúp
cho sự tồn tại của Pháp. Tất cả 20 bộ phái cùng được 4 đạo quả,
3 tạng của họ bình đẳng, không ai hơn kém, như nước biển cả toàn một
mùi vị, như người có 20 đứa con. Đó là sự thật mà Như lai nói [trước].
Văn thù, bộ phái căn bản thì có
2, và cùng xuất từ Đại thừa, [nghĩa là] xuất từ bát nhã... Đức Thế
tôn lại nói những lời chỉnh cú sau đây.
- Từ Đại chúng bộ
- phân hóa ra bảy,
- từ Thượng tọa bộ
- phân hóa mười một,
- như thế gọi là
- hai mươi bộ phái.
- Mười tám bộ ngọn
- với hai bộ gốc,
- tất cả toàn là
- xuất từ Đại thừa,
- không có gì phải
- không có gì trái,
- đó là Như lai
- nói việc sau này.
(17-11-2532)
Mở Đầu [^]
Chính Văn.-
- Sau khi Thế tôn
- nhập vào niết bàn,
- mới đầy một trăm
- và lẻ mấy năm (1) ,
- ở trong thánh giáo
- bộ phái nổi lên,
- dẫn ra những sự
- không ích lợi gì (2) .
- Vì sự cố chấp
- triển chuyển khác nhau,
- theo đó mà có
- bộ phái nổi lên;
- nay tôi căn cứ
- thầy mình truyền dạy,
- nói cố chấp ấy
- cho họ biết chán.
- Tôi tên Thế hữu,
- là đại bồ tát
- đầy đủ phẩm chất
- đại trí giác tuệ,
- là chân tỷ kheo
- thuộc dòng họ Thích,
- cứu xét bộ phái
- suy nghĩ chọn lựa.
- Nhìn khắp mọi người
- trong quốc độ này,
- thấy bao quan điểm
- trôi nổi quay cuồng (3) ,
- phân hóa phá hoại
- giáo huấn Thế tôn,
- nên tôi phải nói
- học thuyết của họ.
- Cần phải thẩm cứu
- giáo huấn Thế tôn
- toàn là dựa vào
- bốn pháp thánh đế (4) ,
- rồi như một kẻ
- lấy vàng trong cát:
- hãy chọn mà lấy
- những gì chân thật.
Lược Giải.-
Đoạn này là những lời mở đầu
của bồ tát Thế hữu, cho thấy, đối với học thuyết của các bộ
phái, có thể chấp nhận với sự phê phán và chọn lọc.
Thời
Đại và Nguyên Nhân Phân Hóa Bộ Phái [^]
Chính Văn.-
Tôi nghe truyền dạy như vầy: Sau
khi đức Thế tôn nhập niết bàn hơn một trăm năm (5) , cách Ngài đã
lâu, như mặt trời từ lâu đã lặn mất. Thời kỳ này, tại thủ phủ
Câu tô ma của quốc gia Ma kiệt đà, A dục vương thống trị đại lục Diêm
phù (6) , cảm được bảo cái màu trắng, đức hóa thấm nhuần nhân loại
và thần linh.
Lược Giải.-
Đoạn này nói thời đại khởi sự
phân hóa bộ phái, thời đại A dục. Nhưng đó là luận chủ đưa ra cái mốc
và nhân vật của một thời đại quan trọng. Thời đại này, theo Phật
giáo Tây tạng truyền thuyết, sự kiện quan trọng là trong khí thế cực
phân, các bộ phái cùng chép ra văn bản 3 tạng mình tụng, theo ngữ văn của
vùng ảnh hưởng, và có đến 4 ngữ văn tất cả.
Chính Văn.-
Bấy giờ đại tăng của Phật giáo
bắt đầu phân hóa. Sự thể là do 4 chúng bình nghị khác nhau về 5 sự của
ngài Đại thiên đưa ra mà chia thành 2 bộ, là Đại chúng bộ và Thượng
tọa bộ (7) . Bốn chúng là chúng rồng voi, chúng biên dã, chúng đa văn và
chúng đại đức (8) . Năm sự là như bài chỉnh cú sau đây của ngài Đại
thiên.
- Kẻ khác dẫn dụ,
- còn sự không biết,
- còn điều hoài nghi,
- nhờ người giúp vào,
- và chính thánh đạo
- cũng có nhờ tiếng:
- như thế gọi là
- Phật giáo chân thật (9) .
Lược Giải.-
Đoạn này nói nguyên nhân phân hóa
bộ phái. Điều đáng khen là, không như kẻ khác, luận chủ không xuyên tạc
tư cách và tư tưởng của ngài Đại thiên.
Các
Bộ Phái Thuộc Hệ Đại Chúng Bộ [^]
Chính Văn.-
Sau đó, ngay trong bách kỷ 2, Đại
chúng bộ lưu xuất ra 3 bộ, là Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ,
Kê dận bộ. Sau đó nữa, cũng trong bách kỷ 2, Đại chúng bộ lại lưu xuất
1 bộ nữa, tên Đa văn bộ. Và sau đó nữa, vẫn trong bách kỷ 2, Đại chúng
bộ lại lưu xuất thêm một bộ nữa, tên Thuyết giả bộ. Bách kỷ 2 mãn
rồi, có một ngoại đạo xuất gia, bỏ tà về chánh, cũng tên Đại thiên
(9B) , theo Đại chúng bộ mà xuất gia, thọ cụ túc giới, đa văn tinh tiến,
ở Chế đa sơn, cùng tăng chúng bản bộ cứu xét tường tận lần nữa đối
với 5 sự, nhân đó mà tranh biện mâu thuẫn, phân hóa làm 3 bộ nữa, là
Chế đa sơn bộ, Tây sơn trú bộ, Bắc sơn trú bộ. Như thế ấy, Đại chúng
bộ có 4 hay 5 lần phân hóa, gốc và ngọn nói riêng ra thì hợp thành 9 bộ:
1 là Đại chúng bộ, 2 là Nhất thuyết bộ, 3 là Thuyết xuất thế bộ, 4
là Kê dận bộ, 5 là Đa văn bộ, 6 là Thuyết giả bộ, 7 là Chế đa sơn bộ,
8 là Tây sơn trú bộ, 9 là Bắc sơn trú bộ (10) .
Lược Giải.-
Đoạn này nói sự phân hóa của hệ
Đại chúng bộ.
Các Bộ Phái Thuộc Hệ Thượng Tọa Bộ [^]
Chính Văn.-
Còn phần Thượng tọa bộ thì trải
qua ngần này thì gian vẫn hòa hợp nhất vị. Mãi đến đầu bách kỷ 3 mới
có chút ít mâu thuẫn tranh cãi, phân hóa làm 2 bộ: 1 là Thuyết hữu bộ
(10B) cũng gọi là Thuyết nhân bộ; 2 là chính Thượng tọa bộ đổi tên
Tuyết sơn bộ. Sau đó, chính trong bách kỷ 3, từ Thuyết hữu bộ lưu xuất
1 bộ, tên Độc tử bộ. Sau đó nữa, cũng trong bách kỷ 3, từ Độc tử
bộ lưu xuất 4 bộ: Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chánh lượng bộ, Mật
lâm sơn bộ. Tiếp theo, vẫn trong bách kỷ 3, từ Thuyết hữu bộ lưu xuất
1 bộ nữa, tên Hóa địa bộ. Tiếp theo nữa, vẫn trong bách kỷ 3, từ
Hóa địa bộ lưu xuất 1 bộ, tên Pháp tạng bộ, [bộ chủ] tự xưng thừa
kế và tôn ngài Mục liên làm thầy. Đến cuối bách kỷ 3, từ Thuyết hữu
bộ lại lưu xuất 1 bộ nữa, tên Aẫm quang bộ, cũng gọi là Thiện tuế
bộ. Đến đầu bách kỷ 4, từ Thuyết hữu bộ lại lưu xuất 1 bộ nữa,
tên Kinh lượng bộ, cũng gọi là Thuyết chuyển bộ, [bộ chủ] tự xưng mình
tôn ngài A nan làm thầy. Như thế ấy, Thượng tọa bộ có 7 hay 8 lần
phân hóa, gốc ngọn nói riêng ra thì hợp thành 11 bộ: 1 là Thuyết hữu bộ,
2 là Tuyết sơn bộ, 3 là Độc tử bộ, 4 là Pháp thượng bộ, 5 là Hiền
trụ bộ, 6 là Chánh lượng bộ, 7 là Mật lâm sơn bộ, 8 là Hóa địa bộ,
9 là Pháp tạng bộ, 10 là Aẫm quang bộ, 11 là Kinh lượng bộ (11) .
Lược Giải.-
Đoạn này nói về sự phân hóa của
Thượng tọa bộ. Điều đáng chú ý là sự phân hóa này khởi đầu luận
học chiếm ưu thế (đó là Thuyết hữu bộ) mà cuối cùng chán ngán luận
học (đó là Kinh lượng bộ). Mặt khác, có thể nói Thượng tọa bộ không
phân hóa gì hết, vì sau khi yếu thế, đổi thành Tuyết sơn bộ rồi thì
không thấy có gì nữa; còn trọng tâm phân hóa chính là Thuyết hữu bộ,
bộ phái trọng luận hơn kinh, chiếm hẳn bộ gốc là Thượng tọa bộ, nên
nói hệ Thượng tọa bộ thực ra không đúng bằng nói hệ Thuyết hữu bộ.
Mở Đầu
Chính Văn.-
Tất cả [20] bộ phái trên đây, học
thuyết căn bản và đồng nhất, cũng như học thuyết chi tiết và dị biệt
(12) của họ, nay tôi sẽ nói đến.
Lược Giải.-
Như đã nói, luận này có 2 phần.
Phần trước đã nói các bộ phái (dị bộ), phần này sẽ nói học thuyết
(tông luân) của các bộ phái ấy. Phần này có 2 hệ: hệ Đại chúng bộ
có 4 đoạn, hệ Thượng tọa bộ có 7 đoạn.
Nói Phần Chính
[^]
Chính Văn.-
[Về hệ Đại chúng bộ, đoạn một],
học thuyết căn bản và đồng nhất của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ,
Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ, là 4 bộ này cùng nói
- (1) Thân của chư Như lai toàn là siêu xuất thế
gian.
- (2) Chư Như lai không có pháp hữu lậu.
- (3) Lời nói của chư Như lai toàn là chuyển pháp
luân.
- (4) Chư Như lai dùng một âm thanh nói tất cả
pháp.
- (5) Những điều chư Như lai nói đều là đúng
nghĩa.
- (6) Sắc thân của chư Như lai thật không có giới
hạn.
- (7) Uy lực của chư Như lai cũng không có giới hạn.
- (8) Thọ lượng của chư Như lai càng không có giới
hạn.
- (9) Chư Như lai không có tâm lý thấy chán thấy
đủ trong sự giáo hóa chúng sinh cho họ có đức tin trong sáng.
- (10) Chư Như lai không ngủ và không mộng mị.
- (11) Chư Như lai giải đáp các câu hỏi một cách
không đợi suy nghĩ.
- (12) Chư Như lai lúc nào cũng không nói danh, cú
và văn, vì các Ngài thường ở trong chánh định, nhưng các loại chúng
sinh nói các Ngài nói danh, cú và văn, và hoan hỷ phấn chấn [theo danh, cú
và văn ấy].
- (13) Chư Như lai thì tâm thức trong một sát na mà
biết rõ tất cả pháp.
- (14) [Chư Như lai thì] tâm trí một sát na thích
ứng bát nhã là thấu triệt tất cả pháp.
- (15) Chư Như lai thì trí tận diệt và trí không
sinh thường xuyên hiện hành cho đến lúc nhập vào niết bàn.
- (16) Chư Bồ tát vào thai mẹ thì không ai chấp thọ
làm tự thể cái tinh huyết hóa hợp, cái tinh huyết hóa hợp mà mới đọng
lại thì như bọc nhọt, đã đọng thì cứng hơn, và đọng cứng rồi thì
cứng dần hơn nữa.
- (17) Chư Bồ tát khi vào thai mẹ thì bằng hình
voi trắng.
- (18) Chư Bồ tát khi ra thai mẹ thì đều từ hông
bên phải.
- (19) Chư Bồ tát không có ý tưởng ái dục, giận
dữ và tác hại.
- (20) Chư Bồ tát muốn lợi ích chúng sinh mà nguyẹẤn
sinh chỗ dữ thì tùy ý sinh đến.
- (21) Cái trí ngoại biên hiện quán trong một sát
na mà biến tri mọi sự sai biệt của 4 thánh đế.
- (22) Năm thức nhãn nhĩ tyՠthiệt thân ô nhiễm đã
có mà ly nhiễm cũng có.
- (23) Sắc giới và Vô sắc giới đều có đủ cả
6 thức.
- (24) Năm sắc căn thì thể chất là khối thịt
nên không phải mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hơi, lưỡi nếm mùi,
thân biết xúc.
- (25) Trong giai đoạn đẳng dẫn vẫn phát ra ngôn
ngữ, vẫn có cái tâm thuần hóa, vẫn có cái ý tản mạn.
- (26) Việc làm hoàn tất thì không có sự chấp thủ.
- (27) Các vị Dự lưu thì tâm và tâm sở biết
được đặc tính.
- (28) Có vị La hán bị kẻ khác dẫn dụ, còn sự
không biết, còn điều hoài nghi, người khác giúp vào, thánh đạo nhờ tiếng.
- (29) Khổ có thể dẫn ra thánh đạo.
- (30) Nói khổ cũng có thể giúp [cho sự dẫn ra
ấy].
- (31) Tuệ giác mới là da hành có năng lực loại
trừ khổ não, lại có năng lực dẫn ra yên vui.
- (32) Khổ cũng là sự ăn.
- (33) Điều vị thứ 8 cũng có thì gian lâu dài.
- (34) Cho đến Thế đệ nhất vẫn có thể nói là
có thoái thất.
- (35) Dự lưu có thể thoái chuyển chứ La hán
không thể thoái chuyển.
- (36) Không có cái gọi là chánh kiến thế gian,
không có cái gọi là tín căn thế gian.
- (37) Không có cái gọi là pháp vô ký.
- (38) Vào chánh tánh ly sanh thì khi đó có thể nói
cắt đứt hết thảy mọi sự kết buộc.
- (39) Các vị Dự lưu có thể làm mọi điều ác
đi nữa cũng không làm 5 tội vô gián.
- (40) Kinh của Phật nói toàn là liễu nghĩa.
- (41) Vô vi có 9, đó là trạch diệt, phi trạch diệt,
hư không, không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu, phi phi tưởng, duyên
khởi tánh, thánh đạo tánh.
- (42) Tâm tánh thì bản tịnh, nói bất tịnh là
vì bụi bặm phiền não làm cho ô nhiễm.
- (43) Tùy miên không phải tâm, không phải tâm sở,
không có đối tượng.
- (44) Tùy miên khác với triền phược, triền phược
khác với tùy miên, và nên nói tùy miên không thích ứng với tâm, triền
phược mới cùng tâm thích ứng.
- (45) Quá khứ và vị lai không thực có bản thể.
- (46) Toàn thể pháp xứ không phải được thấy
biết, không phải được nhận thức, mà là được thông đạt.
- (47) Không có gì gọi là trung hữu.
- (48) Các vị Dự lưu cũng có tịnh lự.
- Đại loại như vậy là học thuyết căn bản và
đồng nhất [của 4 bộ phái] (13) .
- Còn học thuyết chi tiết và dị biệt của 4 bộ
phái là
- (1) Như các thánh đế sai biệt thế nào thì các
hiện quán cũng sai biệt như vậy.
- (2) Có một ít pháp là tự tác, có một ít pháp
là tha tác, có một ít pháp là câu tác, có một ít pháp là duyên sinh.
- (3) Có thể trong một lúc mà có 2 tâm cùng nổi
lên.
- (4) Thánh đạo với phiền não có thể có sự
cùng lúc hiện hành.
- (5) Nghiệp với quả có thể có sự đồng thời
chuyển hiện.
- (6) Chính hạt giống làm mầm mộng.
- (7) Sắc căn đại chủng có chuyển biến mà tâm
với tâm sở không chuyển biến.
- (8) Tâm khắp thân.
- (9) Tâm tùy căn và cảnh mà có sự co giản.
Đại loại như vậy là học thuyết
chi tiết và dị biệt được [4 bộ] chấp thủ, triển chuyển sai biệt đến
vô số tiết mục (14) .
Lược Giải.-
Trong hệ Đại chúng bộ, 2 đoạn
nhỏ trên đây là đoạn một trong 4 đoạn nói về học thuyết của hệ
này. Đoạn một này nói về học thuyết căn bản và đồng nhất cùng với
học thuyết chi tiết và dị biệt của 4 bộ: Đại chúng bộ, Nhất thuyết
bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ. Nhìn vào tất cả 48 mục và 9 mục,
hãy khoan nhìn thấy tiền thân Đại thừa ở đây, vì tiền thân ấy ở cả
trong hệ Thượng tọa bộ, mà hãy chú ý ở đây để thấy sau đây hệ Thượng
tọa bộ đối kháng thế nào. Lại nữa, vấn đề quan trọng bậc nhất, là
nếu Phật không thuyết đại thừa, nếu đại thừa ấy không được tụng
lại trong đại hội 2 của kiết tập 1, nói một cách khác, nếu đại thừa
không phải cũng là nguyên thỉ, thì làm sao có những học thuyết như của
Đại chúng bộ được nói ở đây?
Nói Phần Phụ [^]
Chính văn.-
[Về hệ Đại chúng bộ, đoạn
hai], học thuyết căn bản và đồng nhất của Đa văn bộ là
(1) Năm âm thanh sau đây của Phật
là giáo lý xuất thế, đó là vô thường, khổ, không, vô ngã và niết
bàn, vì 5 âm thanh này dẫn ra giải thoát.
(2) Những âm thanh khác của Phật
là giáo lý thế gian.
(3) Có vị La hán bị kẻ khác dẫn
dụ, còn sự không biết, còn điều hoài nghi, người khác giúp vào, thánh
đạo nhờ tiếng (15) .
Ngoài ra, những học thuyết khác phần
nhiều lại đồng nhất với Thuyết hữu bộ.
[Về hệ Đại chúng bộ, đoạn
ba], học thuyết căn bản và đồng nhất của Thuyết giả bộ là
- (1) Khổ không phải uẩn.
- (2) Mươi hai xứ không phải thật.
- (3) Các hành triển chuyển đối chiếu với nhau mà
giả danh là khổ, không có cái sĩ dụng ở đây.
- (4) Không có cái chết không phải lúc, mà toàn
là do nghiệp trước có ra.
- (5) Nghiệp tăng trưởng mới làm nhân mà có nghiệp
quả.
- (6) Do phước mà được thánh đạo, thánh đạo
không thể tu mà được.
- (7) Thánh đạo không thể hỏng mất (16) .
Ngoài ra, những học thuyết khác phần
nhiều đồng nhất với Đại chúng bộ.
[Về hệ Đại chúng bộ, đoạn
tư], Chế đa sơn bộ, Tây sơn trú bộ, Bắc sơn trú bộ, 3 bộ này học
thuyết căn bản và đồng nhất là
- (1) Chư Bồ tát chưa thoát đường dữ.
- (2) Hiến cúng Tháp không có phước báo lớn lao.
- (3) Có vị La hán có 5 sự (17) .
Ngoài ra, những tiết mục khác phần
nhiều đồng nhất với Đại chúng bộ.
Lược Giải.-
Đây là 3 đoạn còn lại trong 4 đoạn
nói về học thuyết của các bộ phái thuộc hệ Đại chúng bộ. Đáng
chú ý, dầu không quái lạ gì, là Đa văn bộ thuộc hệ Đại chúng bộ
mà học thuyết lại đa số đồng nhất với Thuyết hữu bộ. Sau đây cũng
có trường hợp tương tự, đó là Pháp tạng bộ thuộc hệ Thượng tọa
bộ mà học thuyết lại phần nhiều đồng nhất với Đại chúng bộ. Chữ
tông luân trong mệnh đề Dị bộ tông luân của luận này là nói những trường
hợp như thế này.
Nói Phần Chính
Chính Văn.-
(18) [Về hệ Thượng tọa bộ, đoạn
một], học thuyết căn bản và đồng nhất của Thuyết hữu bộ (19) là
- (1) Những gì thực có của các pháp mà bộ này
nói thì gồm cả trong 2 loại là danh và sắc.
- (2) Quá khứ và vị lai cũng là thực có.
- (3) Toàn thể pháp xứ là cái được thấy biết,
được nhận thức và được thông đạt.
- (4) Sinh, già, sống, chết, là thuộc loại tâm bất
tương ưng của hành uẩn.
- (5) Hữu vi có 3, vô vi cũng có 3.
- (6) Ba hữu vi có thực thể riêng biệt,
- (7) [Trong tứ đế], 3 là hữu vi, 1 là vô vi.
- (8) Tứ đế đều là hiện quán tuần tự.
- (9) Không và vô nguyện, tu 2 chánh định này thì
có thể nhập chánh tánh ly sanh.
- (10) Tư duy các hành cõi Dục thì nhập chánh tánh
ly sanh.
- (11) Nhập chánh tánh ly sanh thì 15 tâm gọi là
hành hướng, tâm 16 gọi là trú quả.
- (12) Thế đệ nhất 1 tâm mà có 3 bậc.
- (13) Thế đệ nhất quyết định không thoái chuyển.
- (14) Dự lưu không cái lý thoái chuyển, La hán có
cái lý thoái chuyển.
- (15) Không phải các vị La hán đều được trí
không sinh.
- (16) Phàm phu có thể đoạn tuyệt tham dục và
sân hận.
- (17) Có những ngoại đạo được 5 thần thông.
- (18) Trong chư thiên cũng có người sống theo phạn
hạnh.
- (19) Trong 7 đẳng chí có giác chi, chứ không phải
những đẳng chí khác.
- (20) Tất cả tịnh lự đều gồm trong 4 niệm trú.
- (21) Không do tịnh lự mà cũng được nhập chánh
tánh ly sanh, được đạo quả La hán.
- (22) Dựa vào cái thân cõi Sắc và cõi Vô sắc
thì dẫu chứng được đạo quả La hán mà không nhập được chánh tánh
ly sanh.
- (23) Dựa vào cái thân cõi Dục thì không những
được nhập chánh tánh ly sanh mà cũng được chứng đạo quả La hán.
- (24) Ở đại lục Bắc câu lô không có người
thoát ly ô nhiễm.
- (25) Thánh giả không sinh đến đại lục ấy và
cõi trời Vô tưởng.
- (26) Bốn đạo quả sa môn đều không cố định
là chứng đắc tuần tự.
- (27) Nếu nhập chánh tánh ly sanh rồi, do thế tục
đạo, vẫn có người chứng đạo quả Nhất lai và Bất hoàn.
- (28) Có thể nói rằng [đối tượng] 4 niệm trú
bao gồm tất cả các pháp.
- (29) Tất cả tùy miên toàn là tâm sở, thích ứng
với tâm, có đối cảnh sở duyên.
- (30) Tất cả tùy miên đều gồm trong triền phược,
không phải tất cả triền phược gồm trong tùy miên.
- (31) Tánh của các chi duyên khởi quyết định là
hữu vi.
- (32) Cũng có chi duyên khởi chuyển hiện theo La
hán.
- (33) Có vị La hán tăng thêm phước nghiệp.
- (34) Chỉ cõi Dục và cõi Sắc quyết định có
trung hữu.
- (35) Năm thức nhãn nhĩ tyՠthiệt thân có ô nhiễm
mà không ly nhiễm, chỉ biết tự tánh và chỉ có sự không phân biệt.
- (36) Tâm tâm sở mỗi thứ đều có thực thể.
- (37) Tâm tâm sở quyết định có đối tượng sở
duyên.
- (38) Tự tánh không tương ứng với tự tánh, tâm
không tương ứng với tâm.
- (39) Có chánh kiến thế gian, có tín căn thế
gian, có pháp vô ký.
- (40) La hán cũng có cái pháp không phải tu học
đang còn hay tu học đã hết.
- (41) Các vị La hán thì được tịnh lự cả,
nhưng không phải vị nào cũng có tịnh lự hiện tiền [thường xuyên].
- (42) Có vị La hán còn chịu quả báo nghiệp cũ.
- (43) Có những kẻ phàm phu chết trong thiện tâm.
- (44) Ở trong đẳng dẫn thì chắc chắn không chết.
- (45) Phật đà với Thanh văn Duyên giác không khác
nhau về giải thoát.
- (46) Nhưng thánh đạo của 3 thừa thì không đồng
đẳng.
- (47) Từ bi của Phật không vin lấy chúng sinh.
- (48) Chấp thực hữu chúng sinh thì không phải giải
thoát.
- (49) Nên nói Bồ tát còn là chúng sinh, vì chưa trừ
hết kiết sử.
- (50) Chưa nhập chánh tánh ly sanh thì chưa vượt lên
trên vị trí chúng sinh.
- (51) Chúng sinh là danh từ được giả thiết bởi
sự liên tục hiện hữu chấp thọ.
- (52) Tất cả các hành toàn là bị diệt trong từng
sát na.
- (53) Quyết định không có một chút pháp nào từ
đời trước chuyển đến sau, mà chỉ do bổ đặc dà la của chân lý phổ
thông nên nói có di chuyển.
- (54) Còn sống mà các hành đã bị diệt hoàn
toàn, nên không có cái uẩn di chuyển.
- (55) Có cái tịnh lự xuất thế, tầm cũng có thứ
vô lậu.
- (56) Cũng có cái thiện pháp làm nhân tố cho 3
cõi.
- (57) Trong trạng thái đẳng dẫn thì không phát ra
ngôn ngữ.
- (58) Tám chi thánh đạo là chánh pháp luân, chứ
không phải ngôn ngữ của Phật toàn là chuyển pháp luân.
- (59) Không phải một âm thanh của Phật nói được
tất cả các pháp.
- (60) Phật cũng có ngôn ngữ không đúng nghĩa.
- (61) Kinh của Phật thuyết không phải toàn là liễu
nghĩa, bởi vì chính Phật tự nói có những kinh không liễu nghĩa.
Đại loại như vậy là học thuyết
căn bản và đồng nhất [của Thuyết hữu bộ]. Còn học thuyết chi tiết
và dị biệt của bộ này thì vô số (20) .
Lược Giải.-
Đây là đoạn một trong 7 đoạn nói
về học thuyết của các bộ phái thuộc hệ Thượng tọa bộ. Các tiểu mục
được nói trong đoạn này cho thấy Thuyết hữu bộ không công nhận 5 sự
Đại thiên, nhưng hơn cả 5 sự ấy, cho La hán không phải, rất không phải
toàn hảo -- qua các tiểu mục 14, 32, 41, nhất là 15. Tư tưởng và thái độ
của Thuyết hữu bộ đối với quả vị La hán thật quá đáng và khó hiểu.
Thế là thế nào? Nhất là học thuyết của Thuyết hữu bộ được nói
ở đây là trung thực, vì ngài Thế hữu là người của bộ phái ấy.
Nói Phần Phụ
Chính Văn.-
[Về hệ Thượng tọa bộ, đoạn
hai], học thuyết căn bản và đồng nhất của Tuyết sơn bộ là
- (1) Các vị Bồ tát còn là dị sinh.
- (2) Bồ tát vào thai mẹ thì không còn tham ái.
- (3) Không có ngoại đạo được 5 thần thông.
- (4) Cũng không có người sống theo phạn hạnh ở
trong chư thiên.
- (5) Có vị La hán còn bị kẻ khác dẫn dụ, còn
sự không biết, còn điều hoài nghi, người khác giúp vào, thánh đạo nhờ
tiếng (21) .
- Ngoài ra, những học thuyết khác phần nhiều đồng
nhất với Thuyết hữu bộ.
- [Về hệ Thượng tọa bộ, đoạn ba], học thuyết
căn bản và đồng nhất của Độc tử bộ là
- (1) Bổ đặc dà la không phải đồng nhất với uẩn,
cũng không phải độc lập với uẩn.
- (2) [Bổ đặc dà la ấy] do uẩn xứ giới mà giả
thiết danh từ.
- (3) Các hành có phần tạm thời tồn tại, có phần
sát na sinh diệt.
- (4) Các pháp nếu tách rời bổ đặc dà la thì
không di chuyển từ đời trước đến đời sau; do bổ đặc dà la nên có
thể nói có di chuyển.
- (5) Cũng có ngoại đạo được 5 thần thông.
- (6) Năm thức không phải ô nhiễm, cũng không phải
ly nhiễm.
- (7) Đoạn trừ những kiết sử thuộc loại tu sở
đoạn của cõi Dục thì gọi là ly dục, chứ không phải loại kiến sở
đoạn.
- (8) Chính Nhẫn Danh Tướng và Thế đệ nhất gọi
là nhập được chánh tánh ly sanh.
- (9) Nhập được chánh ly sanh thì 12 tâm là hành hướng,
tâm 13 là trú quả (22) .
Đại loại như vậy, học thuyết của
Độc tử bộ có nhiều tiết mục khác nhau. Lại nhân giải thích bài chỉnh
cú sau đây mà học thuyết bất đồng, nên từ Độc tử bộ lưu xuất 4 bộ
nữa là Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chánh lượng bộ và Mật lâm sơn
bộ. Bài chỉnh cú được giải thích là như thế này.
- Được giải thoát rồi
- lại còn thoái lui,
- thoái lui do tham
- nhưng vẫn phục hồi,
- đạt đến yên ổn
- thì là an vui,
- do an vui này
- đi đến An vui (23) .
[Về hệ Thượng tọa bộ, đoạn bốn],
học thuyết căn bản và đồng nhất của Hóa địa bộ là
- (1) Quá khứ và vị lai là không, hiện tại và
vô vi là có.
- (2) Đối với tứ đế, có thể một lúc hiện
quán [tổng quát]; khi thấy khổ đế thì thấy được các đế khác: phải
thấy [tổng quát] rồi mới thấy được như vậy.
- (3) Tùy miên không phải tâm vương, không phải
tâm sở, cũng không sở duyên.
- (4) Tùy miên khác với triền phược.
- (5) Đặc tính tùy miên là tâm bất tương ưng, đặc
tính triền phược là tâm tương ưng.
- (6) Dị sinh không loại trừ được [mà chỉ chế
ngự được] sự tham dục và sự sân hận của cõi Dục.
- (7) Không có ngoại đạo được 5 thần thông.
- (8) Cũng không có người sống theo phạn hạnh ở
trong chư thiên.
- (9) Quyết định không có trung hữu.
- (10) Không có La hán tăng thêm phước nghiệp.
- (11) Năm thức có ô nhiễm và có ly nhiễm.
- (12) Sáu thức toàn thích ứng với tầm tứ.
- (13) Có vị ngang trên đỉnh đầu [3 cõi].
- (14) Có chánh kiến thế gian mà không có tín căn
thế gian.
- (15) Không có tịnh lự xuất thế, cũng không có
cái tầm vô lậu.
- (16) Thiện pháp không phải nhân tố 3 cõi.
- (17) Dự lưu có thể có thoái chuyển, La hán quyết
định không thoái chuyển.
- (18) Tám chi thánh đạo toàn là liên quan với 4 niệm
trú.
- (19) Vô vi có 9: trạch diệt, phi trạch diệt, hư
không, bất động, chân như nơi thiện pháp, chân như nơi ác pháp, chân như
nơi vô ký, chân như nơi các chi thánh đạo, chân như nơi các chi duyên khởi.
- (20) Vào thai là đầu, mạng chết là cuối, [trong
thì gian này] sắc căn và đại chủng toàn có chuyển biến, tâm vương với
tâm sở cũng có chuyển biến.
- (21) Trong Tăng có Phật, nên hiến cúng Tăng thì
được đại quả báo chứ không phải hiến cúng riêng Phật.
- (22) Phật với Thanh văn và Duyên giác đồng đẳng
đường đi duy nhất, đồng đẳng giải thoát duy nhất.
- (23) Tất cả các hành toàn là bị diệt trong từng
sát na.
- (24) Quyết định không có một chút pháp nào từ
đời trước chuyển đến đời sau (24) .
Đại loại như vậy là học thuyết
căn bản và đồng nhất của Hóa địa bộ. Còn học thuyết chi tiết và dị
biệt của bộ này là
- (1) Thật có quá khứ và vị lai.
- (2) Trung hữu cũng có.
- (3) Toàn thể pháp xứ là cái được thấy biết,
cũng là cái được nhận thức.
- (4) Nghiệp đích thực là tư.
- (5) Không có thân nghiệp và khẩu nghiệp.
- (6) Tầm với tứ thích ứng với nhau.
- (7) Địa cầu tồn tại trong thời kỳ lâu dài.
- (8) Hiến cúng Tháp được phước báo nhỏ.
- (9) Tùy miên thì đặc tính thường là hiện tại.
- (10) Uẩn Xứ Giới cũng thường hiện tại (25) .
Học thuyết chi tiết của Hóa địa
bộ còn do giải thích 1 bài chỉnh cú sau đây mà có dị biệt.
- Năm pháp quyết định
- có thể buộc ràng,
- mọi nỗi đau khổ
- từ đó phát sinh,
- đó là vô minh,
- tham của cõi Dục,
- ái của cõi Sắc
- và cõi Vô sắc,
- năm thứ thấy sai,
- cùng với các nghiệp (26) .
[Về hệ Thượng tọa bộ, đoạn
năm], học thuyết căn bản và đồng nhất của Pháp tạng bộ là
- (1) Phật tuy ở trong Tăng, nhưng hiến cúng riêng
Phật thì được đại phước báo chứ không phải Tăng.
- (2) Hiến cúng Tháp thì được đại phước báo.
- (3) Phật với Thanh văn Duyên giác giải thoát tuy
đồng nhất mà thánh đạo lại dị biệt.
- (4) Không có ngoại đạo được 5 thần thông.
- (5) La hán thì thân toàn là vô lậu (27) .
Ngoài ra, những học thuyết khác
đa số lại đồng nhất với Đại chúng bộ.
[Về hệ Thượng tọa bộ, đoạn sáu],
học thuyết căn bản và đồng nhất của Aẫm quang bộ là
- (1) Pháp đã đoạn trừ và đã biến tri thì
không, chưa đoạn trừ và chưa biến tri thì có.
- (2) Nghiệp quả đã thành thục thì không, nghiệp
quả chưa thành thục là có.
- (3) Có các hành lấy quá khứ làm nhân, mà không
các hành lấy vị lai làm nhân.
- (4) Tất cả các hành toàn là bị diệt trong từng
sát na.
- (5) Những gì của các vị đang còn tu học đều
có quả báo (28) .
Ngoài ra, những học thuyết khác phần
nhiều đồng nhất với Pháp tạng bộ.
[Về hệ Thượng toạ bộ, đoạn bảy],
học thuyết căn bản và đồng nhất của Kinh lượng bộ là
- (1) Nói các uẩn có thể từ đời trước chuyển
đến đời sau -- nên đặc biệt danh Thuyết chuyển bộ.
- (2) Không phải tách rời thánh đạo mà có sự vĩnh
diệt của các uẩn.
- (3) Có cái uẩn bên căn, có cái uẩn một vị.
- (4) Vị trí dị sinh cũng có thánh pháp.
- (5) Có cái "thắng nghĩa bổ đặc dà la"
(29) .
Ngoài ra, những học thuyết khác phần
nhiều đồng nhất với Thuyết hữu bộ.
Lược Giải.-
Đây là 6 đoạn còn lại trong 7 đoạn
nói về học thuyết của các bộ phái thuộc hệ Thượng tọa bộ. Theo nhận
xét của tôi, đừng thấy trong các học thuyết ấy có mục nói Ngã mà vội
vã cho là ngoại đạo, là phi chánh pháp, cũng đừng thấy có mục nói Ngã
chuyển đến đời sau mà hấp tấp bảo là thường kiến. Ở đây thực sự
đã nêu lên vấn đề Ngã. Ngã ấy là thế nào đối với thần ngã mà ngoại
đạo cao cấp nói, lại là thế nào đối với đức Ngã trong 4 đức của
đại niết bàn mà Đại thừa nói, thì phải cứu xét cho kyծ Mặt khác,
điều đáng ngạc nhiên thực sự là không xuất từ các bộ phái thuộc hệ
Đại chúng bộ của tôn giả Ba sư ba mà có những tư tưởng về Ngã, mà
những tư tưởng về Ngã ấy lại xuất từ các bộ phái thuộc hệ Thượng
tọa bộ của tôn giả Ca diếp ba. Xưa nay hay nói Đại chúng bộ tiến thủ,
Thượng tọa bộ bảo thủ, chữ tiến thủ có nghĩa xa nguyên thỉ hơn chữ
bảo thủ, nói như vậy thực quá sai lầm.
Chỉ nói có thể mà thôi, cũng đã
nhận thấy ích lợi mà Luận này đem lại.
Lời Ghi Của Ngài Huyền Tráng [^]
Tam tạng pháp sư Huyền tráng phiên
dịch Dị tông luận rồi, thuật lại cái ý phiên dịch của mình bằng
cách nói bài chỉnh cú sau đây.
- Cứu xét đầy đủ
- các bản Phạn văn,
- tôi phiên dịch lại
- luận Dị tông luân,
- văn thì thỏa đáng
- nghĩa thì không lầm.
- Ai người có trí
- nên siêng tu học.
Hồi Quan [^]
Những điều nhìn lại Dị tông luận
sau đây, đáng lẽ nên làm một tiểu luận. Nhưng tôi không làm như vậy là
vì tôi muốn những điều này đang là suy luận, chưa phải định luận.
(Một)
(1) Thời đại bộ phái phân hóa,
luận này ghi đầu bách kỷ 2 sau Phật nhập diệt: ngài Huyền tráng dịch
hơn 100 năm, ngài Chân đế dịch 116 năm, và cả 2 ngài đều nói là năm A
dục vương đăng quang. Nhưng tài liệu khác, như Thiện kiến tỳ bà sa nói
năm 218 (Chính 24/679), Lương Khải Siêu nói năm 219 (Phật học nghiên cứu,
bài 11 trang 2).
(2) Nhưng thời đại A dục vương có
sự kiện đáng nói hơn, đó là cái mà Thiện kiến luật gọi là kiết tập
3 (Chính 24/678). Ngày rằm tháng 4 Phật nhập diệt, ngày 17 tháng 6, tức đầu
mùa an cư năm đó, ngài Ca diếp tổ chức kiết tập 1, với 500 vị ái tận
mà "không cho các tỷ kheo khác tham dự, vì sợ họ không phục
tùng". Sau đó 1 bách kỷ, có cái gọi là kiết tập 2. Sau đó nữa, năm
218, A dục vương đăng quang, cử hành kiết tập 3.
(3) Như vậy sự phân hóa bộ phái
thực sự đã có vào lúc và chính vì phong cách triệu tập kiết tập 1 của
ngài Ca diếp. Phong cách này đã làm cho kiết tập 1 có 2 đại hội : một
do ngài Ca diếp chủ tọa, gọi là Thượng tọa bộ, một do ngài Ba sư ba
chủ tọa, gọi là Đại chúng bộ. Không những như vậy, một số rất lớn
về Phật thuyết đại thừa (là Đại sĩ tạng và Bản sinh tạng) thì bên
bỏ, bên lấy. Nhưng cả 2 đại hội của kiết tập 1 đều chỉ tụng lại
Phật thuyết, rồi sau đó là khẩu truyền mà học thuộc lòng. Như vậy từ
đầu và sau kiết tập 1, những gì Phật thuyết không làm sao tránh khỏi
sót và sai.
(4) Tuy vậy, khí thế phân hóa bộ
phái chưa có nhiều lắm yếu tố bức xúc ở ngoài. Đến năm 152 sau Phật
nhập diệt, A lịch sơn đại xâm nhập Ấn độ, mang theo vào đó ảnh hưởng
văn hóa Hy lạp. Sự kiện này bức xúc Phật giáo không nhỏ. Cọng với sự
kiện trước hay ngay lúc đầu thời này, phía Đại chúng bộ xuất hiện
nhân vật vĩ đại là ngài Đại thiên. Ngài này làm 2 việc quan trọng, ấy
là phá hủy tính cách độc quyền về cái gọi là 3 tạng mà kiết tập 1
phía Thượng tọa bộ tụng ra, bằng cách chính thức đưa Đại sĩ tạng và
Bản sinh tạng vào 3 tạng; lại phá hủy tính cách độc tôn của quả vị
La hán bằng cách đưa ra cái gọi là 5 sự Đại thiên. Như vậy sự phân
hóa của các bộ phái đã lên cao độ. Tiếp theo, năm 218 sau Phật nhập diệt,
A dục vương đăng quang, truyền bá Phật giáo rộng ra các địa phương vừa
có văn hóa vừa có ngữ văn khác nhau. Tình trạng này vừa làm cho Phật
giáo thích ứng được với thời đại, vừa đưa đến nhu cầu chép ra văn
bản về 3 tạng mà mỗi bộ phái khẩu truyền. Chắc chắn 3 tạng Paly của
Thượng tọa bộ chính là cái mà Thiện kiến luật gọi là kiết tập 3,
và cùng lúc, như Tây tạng tương truyền, có đến 3 ngữ văn nữa chép 3 tạng
của Đại chúng bộ, Chánh lượng bộ và Thuyết hữu bộ.
(5) Sự phân hóa mà chép ra văn bản
về 3 tạng này tất nhiên làm cho 3 tạng ấy của mỗi bộ phái càng bị
thiếu và bị thêm hơn lên. Rồi dĩ nhiên có cái tình trạng tiếp theo là,
chưa nói những sự hủy diệt của những bạo lực ở ngoài, hãy nói có
thể chính các bộ phái không dung 3 tạng của nhau. Do vậy, đến nay thấy
rõ Đại tạng của Trung hoa và Tây Tạng đều đa dạng, còn Paly nhờ mang
đến Tích Lan từ đầu nên còn nguyên hữu (nên xưng nguyên hữu thì được,
xưng nguyên thỉ thì rất sai). Cái công cái tội của sự phân hóa là như
vậy.
(6) Ngày nay có những người tự
cho mình là nguyên thỉ và hay nói Đại thừa là chế biến. Nhưng sự chế
biến rõ nhất, không húy kì, là chính sự chế biến của Phật, chế biến
không ít từ lý pháp và hành pháp của các ngoại đạo. Ngoại trừ tứ đế
có thể nói Phật giáo đặc hữu, gần như không có bao nhiêu chương mục
không do chế biến hay điều chỉnh mà có. Đại thừa mà xét ra sẽ thấy
nếu nói chế biến thì là chế biến từ Phật thuyết, có thể thêm nữa
là chế biến từ học thuyết của các bộ phái. Xét một mặt khác thì,
chỉ nói cái lượng của văn bản mà thôi, một đời Phật thuyết chắc
chắn không thể chỉ có như Đại thừa hiện giờ, càng không thể chỉ
có như Paly. Ấy vậy, kinh sách Đại thừa có thể nói đã bị mất đi nhiều
hơn là nói mới trước tác. Từ thời Phật, đại thừa mà không có thì
làm sao có tư tưởng của Đại thừa trong các bộ phái?
(Hai)
(7) Thuật ký luận này nói ngài Thế
hữu là người của Thuyết hữu bộ, thuộc bách kỷ 4 sau Phật nhập diệt.
Lương Khải Siêu cũng nói phải là người trước kỷ nguyên dương lịch.
Như vậy tại sao ngài không tự xưng là tôn giả mà tự ghi là bồ tát,
mà là đại bồ tát? Không thể nào ngờ vực tư cách trung thực của
ngài. Vậy mà ngài tự xưng đại bồ tát thì không thể nói ngài không
công nhận Đại thừa, càng không thể nói thời Phật cho đến thời ngài
chưa có Đại thừa. Nên trong Hoa tạng, tác phẩm Bà tu mật tập (Chính
28/721-808) thì đề rõ là Tôn Bà tu mật bồ tát sở tập luận, và bài tựa
nói luận này là bàng thông Đại thừa.
(8) Thế nhưng mở đầu Dị tông luận,
ngài Thế hữu khuyên căn cứ tứ đế mà thẩm định học thuyết của các
bộ phái, thì lời khuyên này chỉ là do tính cách Phật giáo đặc hữu quá
dễ nhận thức của tứ đế.
(9) Khác với thời đại sau ngài như
Đại tỳ bà sa, khác cả với thời đại trước ngài như Thượng tọa bộ
và chính Thuyết hữu bộ của ngài, ngài Thế hữu không cho thấy ngài bất
kính hay bất tín ngài Đại thiên. Ngay đối với 5 sự của ngài Đại thiên,
cũng không thấy ngài có ác cảm gì. Với ngài Đại thiên thứ hai, dầu
cho biết vốn là đạo sĩ ngoại đạo, ngài Thế hữu vẫn tán dương là
đa văn tinh tiến.
(9b) Về 5 sự Đại thiên, thực chất
không phủ nhận sự giải thoát của quả vị La hán, chỉ nói quả vị ấy
bất toàn ẫ tức nói chỉ quả vị Phật đà mới toàn hảo. Nhưng 3 sự
đầu, "kẻ khác dẫn dụ", "còn sự không biết", "còn
điều hoài nghi", cũng vẫn không chỉ trích La hán gì lắm, mà cốt
nói phải như Phật đà trải qua 3 vô số kiếp tu Bồ tát hạnh mới không
còn những gì thuộc về tập quán và tập quán đã thành bản năng, những
gì dầu vô hại cũng vẫn là nhược điểm. Đến như sự "người khác
giúp vào" thì đó là đề cao yếu tố Thiện tri thức, và hơi chỉ trích
La hán không có tự nhiên trí và vô sư trí như Phật đà; còn sự
"thánh đạo nhờ tiếng" thì rõ ràng đề cao cái mà Đại thừa gọi
là đốn ngộ, tức sự tỉnh ngộ đột biến, do nhiều yếu tố, trong đó
có yếu tố tu tập từ đời trước. Như vậy vị La hán nào có 2 sự này
thì chính là vị lợi căn, được khen, không phải chỉ trích. Thời Phật,
các vị này khá nhiều, trong đó có tiếng là chính trường hợp ngài Xá lợi
phất, và cậu ngài là ngài Câu hy la. Thiền tông sau này hay tự cho là thuộc
loại này.
(Ba)
(10) Có một điều quan trọng là,
qua luận này, các bộ phái phân hóa là về quan điểm học thuyết. Nhưng tôi
ngờ rằng đó chỉ là nói một mặt. Rất có thể các bộ phái hình thành
không những vì quan điểm học thuyết mà còn vì sinh hoạt giới luật.
Trong sự giải thích danh hiệu các bộ phái của ngài Khuy cơ thì thấy
không hơn vài bộ đặt tên theo "luật chủ", nhưng sự ghi chú của
dịch giả Văn thù vấn kinh (Chính 14/501) thì hầu hết là "luật chủ".
Lại nữa, Hoa tạng (như bản Đại chính tân tu) thì Luật có đến 5 bộ:
Ngũ phần (số 1421) Tăng kỳ (số 1425) Tứ phần (số 1428) Thập tụng (số
1435) và Hữu bộ (số 1442), chưa kể Thiện kiến (số 1462). Mỗi bộ Luật
là của 1 bộ phái, và xét tổng quát thì gần như không khác gì nhau cả,
chứng tỏ trong cái không khác này mà vẫn có bộ luật riêng, thì sinh hoạt
giới luật của các bộ phái không phải không phân hóa, và sự phân hóa
ấy có thể không phải không thành vấn đề.
(11) Nhìn mọi quan điểm của các bộ
phái mà luận này cho thấy, thì thấy đáng tiếc là Phật không còn. Phật
còn thì, với sự phán định của Ngài, ta biết quan điểm nào được Ngài
chuẩn nhận. Thế nhưng không phải vì vậy mà cho mọi quan điểm ấy chỉ
là để tranh biện.
(12) Trước khi nhìn lại vài quan
điểm chi tiết, ta nên nhìn lại quan điểm chính yếu của các bộ phái,
thì thấy ít nhất cũng có 3 quan điểm sau đây.
(13) Quan điểm thứ nhất là mục
đích luận, tức nhìn lại quả vị La hán. Dầu chính 5 sự Đại thiên cũng
không nói quả vị La hán là chưa giải thoát, nhưng quả vị ấy không những
Đại chúng bộ mà các bộ phái thuộc hệ Thượng tọa bộ cũng công nhận
là bất toàn. Không cho bất toàn thì chỉ có Thuyết hữu bộ. Nhưng không
cho một cách công khai theo 5 sự mà lại vẫn cho là bất toàn, rất bất
toàn, khi nói không phải các vị La hán đều được vô sinh trí (mục 15),
La hán có cái lý thoái chuyển (mục 14) và không phải vị nào cũng có
chánh định hiện tiền thường xuyên (mục 41). Cho như vậy quả thật quá
đáng đến khó hiểu. Ấy vậy mà Thuyết hữu bộ vẫn tự hào, và ngày
nay vẫn có kẻ phụ họa, rằng mình là nguyên thỉ và bảo thủ nhất.
Nhìn lại quả vị La hán bất toàn
là nhìn lại quả vị Phật đà mới toàn hảo. Cái nhìn này của Đại chúng
bộ thật là đại thừa, qua các mục 1-15. Đặc biệt mục 6 và mục 8 thì
rõ ràng nói về báo thân của Phật, và mục 15 thì nói thật hay về sự
Phật không còn phát sinh lại nữa phiền não và quả báo phiền não. Chỉ
thiếu sự nhìn thấy Phật độ không phải chỉ là một thế giới hệ Sa
bà, thiếu sự nhìn thấy Phật thân không phải chỉ là một đức Thích
ca, và có lẽ thiếu cả sự nhìn thấy chúng sinh ai cũng có thể thành Phật
đà ẫ tôi nói có lẽ thôi, vì mục 42 nói tâm tánh là bản tịnh. Chỉ
thiếu có thế. Còn đoạn đức (giải thoát triệt để) trí đức (giác ngộ
toàn hảo) và ân đức (giáo hóa chúng sinh) của Phật thì nhìn thấy cả.
Như vậy thì quyết định Phật đà không phải cũng chỉ là 1 vị La hán.
Quan điểm này Thuyết hữu bộ không công khai thừa nhận, nhưng vẫn thừa
nhận gián tiếp khi nói Phật đà đồng nhất với La hán về đoạn đức
(mục 45) mà không đồng nhấ