- Kinh Trường bộ
16. KINH ĐẠI
BÁT NIẾT BÀN
I
1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế
Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy
giờ, Ajàtasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi, vua nước Magadha, muốn
chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân
Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân
Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại
vong".
2. Rồi Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước
Magadha nói với Bà-la-môn Vassakara (Vũ Xá), đại thần nước Magadha:
- Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế
Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an. Ngài có thiểu
bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: "Bạch Thế Tôn,
Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn
an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú". Và khanh bạch tiếp:
"Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục
dân Vajjì, vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng
có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt
dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong". Thế Tôn trả lời
khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn
không bao giờ nói lời hư vọng.
- Đại vương, xin vâng !
3. Bà-la-môn Vassakara, đại thần
nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha
cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với
các cỗ xe ấy đi ra khỏi Ràjagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu,
đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn,
khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakara, đại
thần nước Magadha, bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama, Ajàtasattu
Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn
an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả
Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì.
Vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền,
có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ
làm cho dân Vajjì bị hoại vọng".
4. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng
quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, Ngươi có nghe dân
Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân
Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không ?
-- Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường
hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân
Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và
làm việc trong niệm đoàn kết không ?
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân
Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và
làm việc trong niệm đoàn kết.
-- Này Ananda, khi nào nghe dân Vajjì
tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc
trong niệm đoàn kết, này Ananda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật
lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành,
sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không
?
-- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì
không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những
luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân
Vajjì như đã ban hành thuở xưa.
-- Này Ananda khi nào dân Vajjì,
không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những
luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân
Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng,
kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo
lời dạy của những vị này không ?
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân
Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão
Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.
-- Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn
sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và
nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt
cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình
không ?
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân
Vajjì không có bắt khóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì
phải sống với mình.
-- Này Ananda, khi nào Vajjì không có
bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với
mình thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường
các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế
các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp
không ?
- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân
Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của
Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã
cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
- Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn
sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh
thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước,
đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo
hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các
vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến
được sống an lạc không?
- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì
bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến
các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã
đến được sống an lạc.
- Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo
hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các
vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến
sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời
này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
5. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn
Vassakara, đại thần nước Magadha:
- Này Bà-la-môn, một thời Ta sống
ở Vesàli tại tự miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối
này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân
Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời
Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn
Vassakara, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ
hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường
thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối.
Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại
dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả
Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những
gì Người nghĩ là hợp thời.
Bà-la-môn Vassakara, vị đại thần
nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng
dậy và từ biệt.
6. Khi Bà-la-môn Vassakara đi chưa bao
lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đi và tập họp tại
giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Ràjagaha (Vương Xá).
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Tôn giả Ananda vâng theo lời dạy
Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi
đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã
tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói
với các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy
pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế
Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo,
chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc
Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những
luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban
hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa
những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc
cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những
vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị
suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến
muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống
an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp
bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
7. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng
bày pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế
Tôn. Thế Tôn nói:
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm
thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm
luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị
suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này
các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành
với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém
và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp
bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
8. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy
pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế
Tôn. Thế Tôn nói:
- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm,
có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp
bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
9. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy
pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn
nói:
- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
tụ tập niệm giác chi, tụ tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác
chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập giả giác chi, thời
này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp
bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
10. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy
pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin vâng bạch Thế Tôn !
Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế
Tôn. Thế Tôn nói:
- Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo
tụ tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng,
tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập
diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp
bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
11. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng
sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế
Tôn. Thế Tôn nói:
- Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị
Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và
vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người,
gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, gìn giữ ý nghiệp từ hòa tại chỗ đông
người và vắng người, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng
tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh
trong bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người, và vắng người,
trong sự thọ trì những giới luật, đúng với Sa-môn hạnh, những giới
luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị
uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có
trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật
hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong
sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến
đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai
thiệt hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất
thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo
được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
12. Trong thời gian Thế Tôn ở Vương
Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:
"Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới
sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ
đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến
giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri
kiến lậu), vô minh lậu".
13. Thế Tôn ở Vương Xá cho đến
khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến
Ambalatthikà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.
14. Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân
trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại
nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
- Đây là Giới, đây là Định, đây
là Tuệ, Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm
cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức
là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
15. Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến
khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến
Nalandà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế
Tôn ở Pavarikambavana (Ba Ba Lợi Âm Bà Lâm).
16. Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất)
đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả
Sàriputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế
Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện
tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng
suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.
- Này Sàriputta, lời nói của Ngươi
thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống
con sư tử: "Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ,
ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một
Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện
chánh giác". Này Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế
Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị
này nói với tâm của Ngươi: "Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới
đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh
trú như vậy, có giải thoát như vậy"?
- Bạch Thế Tôn, không !
- Này Sàriputta, có phải Ngươi đã
biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai,
Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: "Những Thế Tôn
này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có
trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy"?
- Bạch Thế Tôn, không!
- Này Sàriputta, có phải Ngươi biết
Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta
với tâm của Ngươi. "Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định
như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như
vậy"?
- Bạch Thế Tôn, không !
- Này Sàriputta, như vậy Ngươi không
có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ,
tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sàriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra
những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử:
"Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá
khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một
Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện
chánh giác"?
17. Bạch Thế Tôn, con không có tha
tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương
lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế
Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên
cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây
có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không
cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này
trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể
không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo
có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật
to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này.
Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế
Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị
Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí
tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy
Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất
cả các vị A-la-hán, Chánh ửĐẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn
này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu
ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác
chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho
trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập
Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Giác.
18. Trong thời gian Thế Tôn ở tại
Nalandà, rừng Pavarikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
- Đây là Giới, đây là Định, đây
là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm
cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức
là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
19. Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi
Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàtaligàma.
20. Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pàtaligàma
được nghe Thế Tôn đã đến làng Pàtaligàma. Các cư sĩ ở Pàtaligàma đi
đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống
một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, mong
Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con". Thế Tôn im lặng
nhận lời.
21. Các cư sĩ ở Pàtaligàma được
biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài,
thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ
mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước,
chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một
bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ
mát đã được rãi cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước
đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy
làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.
22. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát,
cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa
chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa và bức tường ở giữa, mặt
hướng về phía Đông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi
xuống, lưng dựa vào bức tường phía Đông, hướng mặt phía Tây, đối
diện Thế Tôn.
23. Thế Tôn nói với các cư sĩ ở
Pataligama:
- Này các Gia chủ, có năm sự nguy
hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Gia chủ, người
phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều
vì sống phóng dật. Đó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm
giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Đó là điều
nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Đế Lỵ,
hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần
sợ hãi, bối rối. Đó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới,
sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Đó
là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị
sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đó là điều nguy hiểm
thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Này các gia chủ, đó là năm điều
nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
24. Này các Gia chủ có năm sự lợi
ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm ?
Ở đây, này các Gia chủ, người
giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì
sống không phóng dật. Đó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới,
sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Đó là sự lợi
ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Đế
Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với
tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Đó là sự lợi ích thứ ba cho những
ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn.
Đó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại nữa, này các Gia chủ, người
giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được
sanh vào thiện thú, thiên giới. Đó là sự lợi ích thứ năm cho những ai
giữ giới, sống theo giới luật.
25. Thế Tôn giảng pháp cho những cư
sĩ ở Pàtaligàma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm
hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy:
- Này các Gia chủ, đêm đã khuya,
nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Các người cư sĩ của Pàtaligàma
vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân
phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pàtaligàma
đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.
26. Lúc bấy giờ Sunidha và
Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn
dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các
trú địa ở Pàtaligàma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp,
các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng
đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ
họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng
đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng
tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng
hướng đến sự xây dựng các trú xá.
27. Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh,
siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma,
Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, ai đang xây dựng thành
trì ở Pataligama?
- Sunidha và Vassakara, bạch Thế
Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pataligama để
ngăn chận dân Vajjì.
28. Này Ananda, thật giống như đã
hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần
ở Magadha, Sunidha và Vassakara đang xây thành trì ở Pataligama để ngăn chận
dân Vajjì. Này Ananda ở đây với thiên nhãn, thạnh tịnh, siêu nhân Ta thấy
hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pataligama. Chỗ nào có
thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa,
các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá.
Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua
chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ
nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các
vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các
trú xá. Này Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương
mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi
là Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ananda, Pàtaliputta sẽ bị
ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.
29. Sunidha và Vassakara, hai vị đại
thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những
lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên,
vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara bạch Thế Tôn: "Mong Thế
Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng
Tỷ-kheo". Thế Tôn im lặng nhận lời.
30. Hai vị đại thần xứ Magadha,
Sunidha và Vassakara sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở,
cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm,
rồi cử người đến tin Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, giờ đã đến,
cơm đã sẵn sàng".
Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y,
mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị
đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara, sau khi đi đến liền ngồi trên
chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara tự
tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị,
loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi
bình bát, Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc
ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.
31. Sau khi Sunidha và Vassakara, hai vị
đại thần thứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm
tạ:
Tại chỗ nào người sáng suốt lấy
làm chỗ trú xứ.
Hãy nuôi dưỡng người giữ giới
và người phạm hạnh.
Và san sẽ công đức với Chư Thiên
trú tại chỗ ấy.
Được tôn kính, chúng sẽ tôn
kính lại.
Được trọng vọng, chúng sẽ trọng
vọng lại.
Chúng sẽ mến thương người ấy
như người mẹ thương mến con. Và những ai được thiên thần thân mến
luôn luôn được thấy may mắn.
Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và
Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi
đứng dậy và ra về.
32. Sunidha và Vassakara, hai vị đại
thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói:
- "Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa
nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ
bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi
ra được đặt tên là cửa Gotama".
33. Rồi Thế Tôn đi đến sông
Ganga (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến
nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người
đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ
như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi
ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.
34. Thế Tôn thấy những người
kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột
bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc
ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:
"Những ai làm cầu vượt biển
trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột
bè.
Những người ấy thật là những vị
trí tuệ được giải thoát"
II
1. Rồi Thế Tôn gọi tôn giả
Ananda: "Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kotigàma"
- "Xin vâng, bạch Thế
Tôn". Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.
2. Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, chính vì không
giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân
hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì ? Này các Tỷ-kheo,
chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải
lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không
giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển
luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác
ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế... Khổ Diệt Đạo Thánh đế
mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo
khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Tập
Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, khi Khổ Diệt Đạo Thánh
đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt
trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không
còn hậu hữu nữa.
3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện
Thệ lại nói thêm:
- Chính vì không thấy như thật Bốn
Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự
thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được
trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống
khác nữa.
4. Trong thời gian Thế Tôn ở
Kotigama, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:
- Đây là Giới, đây là Định, đây
là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm
cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức
là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
5. Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến
khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến
Nadika.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà
gạch (Ginjakàvasatha).
6. Rồi Tôn giả Ananda đến chỗ Thế
Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế
Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Salada mệnh
chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế
nào ? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu
thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại
Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế
Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nàdika đã được sanh ở cõi nào, hậu
thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại
Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế
Tôn, cư sĩ Kàlinga... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Nikata... Bạch Thế Tôn, cư sĩ
Katissabha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuttha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ
Santuttha..., Bạch Thế Tôn cư sĩ Bhadda... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã
mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như
thế nào?
7. Này Ananda, Tỷ-kheo Sàtha diệt tận
các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú
ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo
ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ
đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ
Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt
lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này
Ananda nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định
không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ananda cư sĩ
Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó
nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ
Kalinga... Này Ananda cư sĩ Nikata... Này Ananda, cư sĩ Katissabha... Này Ananda, cư
sĩ Tuttha... Này Ananda, cư sĩ Santuttha... Này Ananda, cư sĩ Bhadada... Này
Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh
(thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa.
Này Ananda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nàdita, đoạn trừ năm hạ
phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn
trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh
chung tại Nàdika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng
quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ
đau. Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết
sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt
đến Chánh giác.
8. Này Ananda, thật không có gì lạ,
vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung
lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ananda, như vậy làm phiền
nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh
pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ
tự tuyên bố về mình như sau: "Đối với ta, sẽ không còn địa ngục,
sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng
quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác".
9. Này Ananda, Pháp kính ấy là gì
mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự
tuyên bố về mình như sau: "Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ
không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng
quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác".
Này Ananda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: "Thế
Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế
Tôn". Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: "Chánh pháp được
Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến
để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu".
Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn
chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng
đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh
tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được
nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng
được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới
hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được
vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh
đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng
bởi đời sau. Hướng dẫn đến thiền định".
Này Ananda, chính Pháp kính này mà
Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên
bố về mình như sau: "Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không
còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả
Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác".
10. Khi Thế Tôn ở Nàdika, pháp thoại
này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:
- Đây là Giới, đây là Định, đây
là Tuệ... Tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lâu.
11. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nàdika
cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến
Vesàli.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế
Tôn trú tại vườn Ambapàli.
12. Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải
sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Đó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân,
tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời,
đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán
pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở
trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.
13. Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo
tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi
lui, tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh
giác khi mang áo sanghati (tăng già lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi
uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác
khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này
các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
phải sống an trú chánh niệm tỉnh giác. Đó là lời dạy của Ta cho các
Ngươi.
14. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli
được nghe: "Thế Tôn đã đến Vesàli và ở tại vườn xoài của
ta". Dâm nữ Ambapàli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên
một chiếc, cùng với các cổ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesàli và
đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được,
rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài
và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli đang ngồi
một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Dâm nữ Ambapàli sau khi được Thế
Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch
Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày
mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ
Ambapali được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ Ngài, thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.
15. Các người Licchavi ở Vesàli
được nghe: "Thế Tôn đến Vesàli hiện ở vườn Ambapàli", liền
cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesàli với
những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải
màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc
vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị
Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu
đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng,
mang đồ trang sức màu trắng.
16. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli
đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe,
bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với
dâm nữ Ambapàli:
- Này Ambapàli, tại sao nàng lại đánh
xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe
chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe?
- Này quý Công tử của tôi, tôi vừa
mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.
- Này Ambapàli, hãy nhường cho chúng
ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm ngàn.
- Dầu quý Công tử có cho tôi cả
thành Vesàli cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa
cơm quan trọng này.
Các vị Licchavi này tức tối búng
ngón tay và nói:
- Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài
này đả thắng ! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên. Và
các vị Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapàli.
17. Thế Tôn xa thấy các vị
Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo
nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng
Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống
như chúng Tam thập tam thiên".
18. Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho
đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ
Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế
Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy,
khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Các vị Licchavi sau khi được Thế
Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch
Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày
mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
- Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận
lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapàli rồi.
Các vị Licchavi này tức tối búng
ngón tay và nói: "Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng ! Chúng
ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên... "
Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ
tán thán lời dạy Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài,
thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt.
19. Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali,
đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn
thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: "Bạch Thế
Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng". Thế Tôn buổi sáng đắp y,
đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ
Ambapàli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ
Ambapàli tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vi thượng
thủ, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời
bát, dâm nữ Ambapàli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapàli bạch Thế Tôn: "Bạch Thế
Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là
vị thượng thủ".
Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế
Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến
tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.
20. Trong thời gian Thế Tôn ở
Vesàli, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:
- Đây là Giới, đây là Định, đây
là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm
cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức
là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
21. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesàli
cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng
Baluvà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế
Tôn trú tại làng này.
22. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa
mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ
an cư ở đây, tại làng Baluvà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế
Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến
thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.
23. Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa
mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn
chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau
ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: "Thật không hợp lẽ nếu
Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ
biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh
này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống". Và Thế Tôn với sức tinh
tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.
24. Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi
lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế
đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả
Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con được thấy
Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch
Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy,
mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn,
con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài
chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn
mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân
biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với
các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay (còn giữ lại
một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng:
"Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu
sự giáo huấn của Như Lai" thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di
giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm
đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của
Ta" thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo?
Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm
chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ
còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai
được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này
Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt
trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi
ấy thân Như Lai được thoải mái.
26. Vậy nên, này Ananda, hãy tự
mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ
nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp
làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là
vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa
chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn,
dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo,
đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi
tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối
với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi
tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn
đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một
gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,
không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt
độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính
mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng
Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những
vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu
những vị ấy tha thiết học hỏi.
III
1. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp
y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli,
ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta
muốn đi đến điện thờ Càpàla, để nghỉ trưa.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn,
lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
2. Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla,
khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế
Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một
bên:
- Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả
ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện
thờ Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada,
khả ái thay điện thờ Càpàla.
3. Này Ananda, những ai đã tu bốn
thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền
vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống
đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn
thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền
vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống
đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
4. Nhưng Tôn giả Ananda không thể
nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế
Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy
ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp
vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng
cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".
Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.
5. Lần thứ hai Thế Tôn... lần thứ
ba Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả
ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện
thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada,
khả ái thay điện thờ Capala !" Này Ananda, những ai đã tu bốn thần
túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững,
điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến
một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần
túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững,
điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến
một kiếp hay phần kiếp còn lại.
Nhưng tôn giả Ananda không thể nhận
hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn,
Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi
ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".
Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.
6. Rồi Thế Tôn nói với tôn giả
Ananda:
- Này Ananda hãy đi và làm những
gì Ngươi nghĩ là phải thời.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế
Tôn và đi ra.
7. Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu,
Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi
đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn.
- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy
diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời
Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói:
"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa
trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn
sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống
chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể
tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải
thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn
và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần
diệu".
8. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo
của Thế Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt,
có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân
chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố,
diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ
ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng
phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như
vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn,
nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ !
Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế
Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo
ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ
luật... khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử
chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp,
thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp,
sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày,
xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào
có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách
khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu". Bạch Thế
Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn
chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy
đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi
học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định,
khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi
lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có thể
truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện
Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế
Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư
sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ
luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy
pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa
có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách,
và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có
thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá
chánh pháp một cách thần diệu". Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ
của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ
luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy
pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã
có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách,
và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể
chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp
một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy
diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế
Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta
giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn,
nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người". Bạch Thế Tôn, nay
phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ
biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người.
Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế
Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
9. Khi được nói vậy Thế Tôn nói
với Ác ma: "Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ.
Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ".
10. Và tại điện thờ Capala, Thế
Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống
lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời
đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy.
Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm
khái như sau:
- Mạng sống có hạn hay vô hạn,
- Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
- Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
- Như tháo áo giáp đang mang mặc.
11. Lúc bấy giờ, tôn giả Ananda
suy nghĩ: "Thật là kỳ diệu ! Thật là hy hữu ! Đại địa chấn động,
đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời
vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?".
12. Rồi tôn giả Ananda đến tại
chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một
bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu
! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu ! Đại địa chấn động, đại địa rung
động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch
Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy ?
13. - Này Ananda, có tám nhân, có
tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ananda, đại
địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không.
Này Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi
sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Đó là nhân
thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.
14. Lại nữa này Ananda, có vị
Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên
có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn,
quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động,
chuyển động mạnh. Đó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa
chấn động.
15. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát
ở cõi Tusita (Đâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu
thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó
là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.
16. Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát,
chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến
đại địa chấn động.
17. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai
chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến
đại địa chấn động.
18. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai
chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn
động mạnh. Đó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn
động.
19. Lại nữa, này Ananda, khi Như
Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả
đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ bảy,
duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
20. Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai
nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động,
chấn động mạnh. Đó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa
chấn động. Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa
chấn động.
21. Này Ananda, có tám chúng. Thế
nào là tám. Chúng Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn,
chúng Bốn Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm
thiên.
22. Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến
chúng Sát -đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước
khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của
chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng nói
chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại,
Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta
đang nói, chúng không biết: "Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là
Người chăng?" sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến
tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng
không biết: "Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi
chăng?".
23. Này Ananda. Ta nhớ lại Ta đã đến
chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần... chúng Cư sĩ... chúng Sa-môn... chúng Bốn
Thiên vương... chúng Tam thập tam thiên... chúng Ma... chúng Phạm thiên hơn
trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước
khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào,
dung sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của
Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn
khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: "Kẻ nói
ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?" Sau khi Ta giảng dạy,
khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến
mất, chúng không biết: "Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng,
là Người chăng?" Này Ananda, như vậy là tám chúng.
24. Này Ananda, có tám thắng xứ. Thế
nào là tám?
25. Một vị quán tưởng nội sắc,
thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức
rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng
xứ thứ nhất.
26. Một vị quán tưởng nội sắc,
thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng:
"Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ
hai.
27. Một vị quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị
ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy",
đó là thắng xứ thứ ba.
28. Một vị quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận
thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là
thắng xứ thứ tư.
29. Một vị quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc
xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh,
ánh sáng xanh - như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng
sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc
xanh ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng
chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ năm.
30. Một vị quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu
vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông Kanikàra màu vàng, tướng sắc
vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng
trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc vàng - như vậy vị này quán tưởng
vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng,
hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp
thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ sáu.
31. Một vị quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc
đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu
đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như lụa sa Balanại,
cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc
đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy
các loại ngoại sắc màu đỏ tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng
đỏ, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta
thấy", đó là thắng xứ thứ bảy.
32. Một vị quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình
sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng,
hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn
màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy
vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu
trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận
thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là
thắng xứ thứ tám. Này Ananda như vậy là tám thắng xứ.
33. Này Ananda, tám giải thoát. Thế
nào là tám?
Tự mình có sắc, thấy các sắc;
đó là sự giải thoát thứ nhất.
Quán tưởng nội sắc là vô sắc,
thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.
Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú
tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.
Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng,
diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt,
với suy tư "hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ;
đó là sự giải thoát thứ tư.
Vượt khỏi hoàn toàn Không vô
biên xứ, với suy tư "thức là vô biên", chứng và trú Thức vô
biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô
biên xứ, với suy tư "không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu
xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.
Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu
xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ
bảy.
Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát
thứ tám.
Này Ananda, như vậy là tám giải
thoát.
34. Này Ananda, một thời Ta ở tại
Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapàlanigrodha khi Ta mới
thành đạo. Này Ananda, lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến
xong liền đứng một bên. Này Ananda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với
Ta: "Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt
độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ".
35. Này Ananda, khi được nói vậy,
Ta nói với Ác ma:
- "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt
độ khi nào những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh,
sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học
hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định,
khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi
lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có truyền
bá Chánh pháp thần diệu.
Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ
khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh,
sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học
hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định,
khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi
lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể
truyền bá Chánh pháp thần diệu.
Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ
khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh,
sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học
hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai
minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên,
chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền
bá chánh pháp thần diệu.
Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ
khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh,
sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học
hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai
minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên,
chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền
bá chánh pháp thần diệu.
Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào
phạm hạnh mà Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến,
quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.
36. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ
Càpàla, Ác ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ananda, Ác ma
đứng một bên nói với Ta như sau:
"Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn
hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời
Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói:
"Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa
trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng,
đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân
chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố,
diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ
ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng
phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu".
Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ
tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh
pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh
pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình
bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi
có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hành phục một cách khéo
léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay
Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã
đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch Thế Tôn đây là lời Thế
Thôn đã nói: "Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo
ni của Ta... ; khi nào những cư sĩ của Ta... ; khi nào phạm hạnh Ta giảng
dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn
nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người". Bạch Thế Tôn, nay
phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ
biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.
Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế
Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ".
37. Khi được nói vậy, Ta nói với
Ác ma:
"Này Ác ma, hãy an tâm, không
bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ
diệt độ".
Này Ananda, hôm nay tại điện thờ
Càpàla, Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng
sống lâu hơn nữa).
38. Khi được nói vậy, tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi
ích cho chúng sanh, viứ hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.
- Thôi đi, này Ananda, đừng có thỉnh
cầu Như Lai nữa. Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.
39. Lần thứ hai, tôn giả Ananda...
Lần thứ ba, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi
ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
- Này Ananda, Ngươi có tin sự giác
ngộ Thế Tôn không?
- Bạch Thế Tôn, con có tin!
- Vậy, này Ananda, sao Ngươi lại làm
phiền Như Lai đến ba lần.
40. - Bạch Thế Tôn, chính con được
tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: "Này Ananda, những ai đã
tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có
thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai
đã tu bốn thần túc... Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp
còn lại".
- Này Ananda, Ngươi có tin tưởng không?
- Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!
- Này Ananda, như vậy là lỗi của
Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi
ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh
cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp,
Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì
hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu
Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến
lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi,
như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
41. Này Ananda, một thời Ta ở tại
Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha Kuta). Tại đấy Ta nói với Ananda: "Này
Ananda, khả ái thay thành Vương Xá ! Khả ái thay núi Linh Thứu ! Này Ananda,
những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật
chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người
ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này
Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu
muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại".
Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng,
sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế
Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện
Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh
phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi
cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến
lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của
Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi".
42. Này Ananda, một thời Ta ở
thành Vương Xá, tại Nigrodhàràma... Ta cũng ở thành Vương Xá tại
Corapapàta... Ta cũng ở thành Vương Xá, hang Sattapanni trên núi Vebhàra... Ta
cũng ở thành Vương Xá, tại hang đá Kàla, trên núi Isigili... Ta cũng ở thành
Vương Xá, tại khu rừng Sita trong hang đá Sappasondika... Ta cũng ở thành Vương
Xá, tại Tapodàràma... Ta cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka...
Ta cũng ở thành Vương Xá, tại rừng Jìvakambavana... Ta cũng ở thành Vương
Xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.
43. Này Ananda, tại đấy Ta nói:
"Này Ananda, khả ái thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả
ái thay Nigrodhàràma, khả ái thay Corapapàta, khả ái thay hang Sattapanni trên
núi Vebhara, khả ái thay hang đá Kàla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá
Sappasondika trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng Tapodàràma, khả
ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả
ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi"!
44. "Này Ananda, những ai đã tu
bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật
bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể
sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã
tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có
thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu vậy, này
Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng
quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế
Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho
đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai,
Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như
Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là
khuyết điểm của Ngươi". 45. Này Ananda, một thời Ta ở Vesàli tại
điện thờ Udena.
Tại đấy, này Ananda, Ta cũng nói.
"Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena. Này
Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người
ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này
Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn,
Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu vậy,
này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện
tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai: "Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại
cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng
sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc
cho lời Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như
Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba,
Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy
là khuyết điểm của Ngươi.
46. Này Ananda, một thời Ta ở
thành Vesàli tại điện thờ Gotamaka... ta cũng ở thành Vesàli tại điện
thờ Sattambaka... Ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Bahuputta... Ta cũng
ở thành Vesàli tại điện thờ Sàrandada...
47. Này Ananda, hôm nay tại điện thờ
Càpàla, Ta nói với ngươi: "Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay
điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ
Sattamba, khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada,
khả ái thay đền Càpàla. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập
nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện,
thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay
phần kiếp còn lại. Này Ananda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều
lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện
xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần
kiếp còn lại". Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự
gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không
thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn
kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng
sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Này
Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu
thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như
vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
48. Này Ananda, phải chăng ngay từ
ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải
bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch ? Này Ananda, làm sao có thể
được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại
mà lại mong khỏi có sự biến diệt ? Thật không có sự trạng ấy. Này
Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước
từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát:
"Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như
Lai sẽ diệt độ". Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời
tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.
Này Ananda, chúng ta hãy đi đến giảng
đường Kùtagàra tại rừng Đại Lâm.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
49. Rồi Thế Tôn cùng tôn giả
Ananda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Đại Lâm, khi đi đến, Thế
Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo
sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường này.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn !
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn,
đi mời tất cả vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường,
rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ