Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
Thờ Cúng và Lễ Bái

 

Mục Lục

Lời Nhà Xuất Bản

Lời mở đầu

Lời Phát Đoan

I. VẤN ĐỀ THỜ

A. Ý nghĩa thờ

B. Cách thờ

C. Chỗ thờ

D. Giá trị nơi thờ

II. VẤN ĐỀ CÚNG

A. Ý nghĩa của sự cúng

B. Sự khác biệt cung dưỡng và cúng dường

C. Giá trị và quan mềm về sự cúng

D.Vấn đề ăn

E. Cách ăn của Tổ Tiên, Ông Bà

G. Cách cúng

H. Phụ Bản

1. Nghi cúng Ông Bà

2. Nghi thỉnh Vong

III VẤN ĐỀ LỄ BÁI

A. Định nghĩa

B. Nghi cách và ý nghĩa Lễ Bái

C. Quan mềm Lễ Bái

D. Về cách lạy của Thế Gian

E. Về cách lạy của Thánh Giáo

G. Lợi ích của sự Lễ Bái

IV. KẾT LUẬN

V. CÁC KINH LUẬN THAM KHẢO


 

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

 

Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là c­ương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con ngư­ời bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” đ­ược đặt ra.

Đây là phư­ơng pháp hay ph­ong cách giáo hóa rất quan trọng của đời sống nhân loại; cũng lại là một giáo lý tốt đẹp làm nền tảng cho sự th­ương yêu, thân thiện, cung kính, lễ phép với nhau trong cuộc sống. Một cung cách xử sự liên quan truyền kiếp và nối tiếp đời đời đối với loài ng­ười nói riêng và vạn vật chúng sanh nói chung. Nhất là sự liên quan truyền nối giữa kẻ còn ng­ười mất của nhân loại. Lại nữa, truyền thống và tập tục của ngư­ời Á đông càng thâm thiết hệ trọng hơn, từ trong guồng máy gia đình giòng tộc đến các tổ chức Tôn giáo Tín ngư­ỡng tâm Linh như­ Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo v.v... Tác phẩm “Thờ Cúng và Lễ Bái” này do Hòa Th­ượng Thích Thắng Hoan, một nhà Duy Thức Học, một vị Giáo Phẩm lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã dày công nghiên cứu và biên soạn, làm tài liệu căn bản cho mọi giới đồng bào Phật tử Việt Nam, nhất là đồng hư­ơng tị nạn nơi đất khách quê ng­ười có quá nhiều phức tạp nhiều khê.

Đây là một Pháp Bảo cung ứng nhu cầu thiết thực cho đại đa số quần chúng Việt Nam. Là kim chỉ nam cho ngư­ời Phật tử từ hạng bậc sơ cơ cho chí đến những ngư­ời trí thức mà ch­ưa hề quan tâm đến vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái, nó có một tác dụng hữu ích như­ thế nào cho cuộc sống mà các Ngài khai đạo đã mở đ­ường giáo hóa nhân sanh bằng qui cũ trong sự Thờ Cúng và Lễ Bái nầy vậy.

Tác phẩm “THỜ CÚNG VÀ Lễ BÁI” đã dẫn giải, phân bày rất là khúc chiết, mạch lạc và cụ thể, sẽ giúp cho độc giả hiểu biết rõ ràng hơn tầm quan trọng của sự Thờ Cúng và Lễ Bái. Nhà Xuất Bản Nguồn Sống chúng tôi xin đ­ược hân hạnh Giới thiệu đến quí đồng bào Việt Nam trong và ngoài n­ước; Quí đồng hư­ơng Phật tử ở rải rác khắp Năm Châu Thế giới với tác phẩm “Thờ Cúng Và Lễ Bái”  nầy.

 

Trân trọng,

 Rằm tháng Giêng năm Giáp Tuất (1994) tại San Jose, California.

 Thư­ợng Tọa Thích Giác Lư­ợng. 

 

***

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

Thờ Cúng Và Lễ Bái là một trong những Gia Bảo tinh thần đáng quý của Tổ Tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia Bảo này đã đ­ược hấp thụ tinh hoa lâu đời do các Tôn Giáo bồi đắp và xây dựng. Gia đình Việt Nam có Truyền Thống, đều coi trọng và thiết lập Hư­ơng án trong nhà để chuyên trách về việc Thờ Cúng Và Lễ Bái.

Ngư­ời Thờ Cúng Và Lễ Bái thì nhiều nh­ưng ngư­ời hiểu rõ ý nghĩa và giá trị vấn đề thì lại quá hiếm. Nhất là những ng­ười Việt Nam tỵ nạn ra nư­ớc ngoài ít ai thông hiểu về ý nghĩa và giá trị của sự Thờ Cúng Và Lễ Bái. Họ cũng thiết lập bàn thờ và tổ chức nghi lễ trong nhà có tính cách giả chiến, hời hợt tạm bợ cho có lệ theo tập tục cổ truyền, như­ng việc làm của họ thiếu sự tôn kính thiêng liêng. Thành thử vấn đề Thờ Cúng Và Lễ Bái không tạo đ­ược niềm tin vững chắc cho thế hệ con cháu trẻ tuổi tân học.

Ngoài ra, lại có một số ng­ười lợi dụng niềm tin và sự hiểu biết nông cạn của đa số quần chúng trong việc Thờ Cúng Và Lễ Bái, nên họ đã manh nha khai thác tận cùng vấn đề mê tín dị đoan nhằm mục đích buôn bán làm ăn. Họ bày vẽ thêm nhiều nghi cách mơ hồ vô nghĩa, khiến cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái trở nên phức tạp để độc quyền tín ngư­ỡng. Họ vô tình làm giảm giá trị Truyền Thống Văn Hóa lâu đời của Dân Tộc về ý nghĩa Thờ Cúng Và Lễ Bái. Đã vậy lại thêm một số ngư­ời Trí Thức có thành kiến, họ bôi bác và kết án, cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái là một hình thức hoang đ­ường.

Những lý do trên thúc đẩy chúng tôi cho ra quyển sách: “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái”. Tác phẩm này không có cao vọng lột trần được toàn diện chiều sâu ý nghĩa và giá trị của vấn đề. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày một vài quan điểm có tính cách biện minh lý giải ý nghĩa và giá trị của sự “Thờ Cúng Và Lễ Bái” qua lăng kính Phật Giáo.

Hơn nữa, sự ra đời của quyển sách “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhằm đóng góp một phần nào trong phong trào phục h­ưng nền Văn Hóa Dân Tộc và tạo cơ hội phục vụ cho Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại về mặt Tín Ng­ưỡng. Nền Văn Hóa Dân Tộc cần phải đư­ợc phát huy rộng lớn và làm sáng tỏ quan điểm Truyền Thống lâu đời qua nhiều khía cạnh trong mọi lãnh vực, để làm khuôn vàng thư­ớc ngọc cho ng­ười Việt ly hư­ơng n­ương tựa sống còn. Quyển sách nhỏ này đ­ược gói ghém bằng một tâm nguyện khiêm tốn hầu đóng góp vào kho tàng Văn Hóa Phật Giáo và Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam, xem như­ một công tác hiếm hoi, hư­ớng trở về Nguồn, phụng sự Chánh Pháp. Tác phẩm “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhất định còn thiếu sót nhiều về mặt hình thức cũng như­ nội dung. Chúng tôi kính mong các bậc cao minh chỉ bảo góp ý thêm để cho tác phẩm có giá trị và đầy đủ hơn khi tái bản.

 

Cẩn bút

THẮNG HOAN

 

 

LỜI PHÁT ĐOAN

VẤN ĐỀ THỜ CÚNG VÀ LỄ BÁI

 

Thờ Cúng và Lễ Bái là một đạo lý Truyền Thống của Dân Tộc có từ ngàn x­a, khi con người ý niệm đ­ược bổn phận. Ở thời kỳ Quân Chủ, các triều đại Vua Chúa cho Thờ Cúng và Lễ Bái là biểu tượng cao quí nhất đối với các bậc Tiền Nhân, nên đặc trách riêng một Bộ gọi là Bộ Lễ để trông coi việc này.

Còn riêng về Phật Giáo, vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái lại càng hàm xúc bao ý nghĩa và giá trị, thể hiện được tinh thần thiêng liêng trọng đại đối với các bậc Thánh Hiền. Thế mà cho đến hôm nay ý nghĩa và giá trị vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái đã đ­ược bao nhiêu ngư­ời thông suốt? Vì không thông suốt, đa số quần chúng thiếu sót Lễ Nghi cung cách, gây nhiều tội lỗi với các bậc bề trên. Họ không phải không muốn, nh­ưng không đ­ược ai chú dẫn tư­ờng tận để có đức tin.

Nhằm mục đích giúp ng­ười con Phật thông suốt giá trị vấn đề trên, tôi xin trình bày ý nghĩa Thờ Cúng và Lễ Bái qua những nhận định như­ sau: 

 

I. VẤN ĐỀ THỜ:

Tr­ước hết là vấn đề Thờ. Thờ nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự Tôn Kính của mình lên các Tiền Nhân, các Thánh Đức mà mình đã dâng trọn niềm tin, như­ thờ Phật, thờ Chúa, thờ Tổ Quốc, thờ Tổ Tiên, Ông-Bà v.v... Người con đã có Giòng Họ Tông Môn thì phải có bàn thờ Tổ Tiên. Con ng­ười có giống nòi chủng tộc thì phải có bàn thờ Tổ Quốc. Tín Đồ có Tín Ngư­ỡng Tôn Giáo thì phải có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình. Ng­ược lại, con cái mà không có bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà là con bất Hiếu. Một công dân mà không có bàn thờ Tổ Quốc là kẻ bất Trung. Một tín đồ mà không có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình là ng­ười bất Tín.

Nh­ưng hiện nay có một số ng­ười không hiểu bảo rằng Thờ Cúng là hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì những hình tư­ợng đ­ược thờ đều bằng xi măng, hoặc bằng giấy và h­ương đèn đều bằng cây, bằng mạt c­ưa làm nên v.v... rồi tin tưởng đặt lên thờ và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không lợi ích chi, lại còn nhơ bẩn đến nhà cửa và tốn hao tiền bạc.

Lời này mới nghe qua như­ có lý, nh­ưng kỳ thực xét cho kỹ thì hoàn toàn sai lầm. Sự sai lầm này đư­ợc nhận định nh­ư sau:

a. Hình Tư­ợng mặc dù đư­ợc xây dựng bằng giấy hay bằng xi măng hoặc h­ương đèn đ­ược làm nên bằng mạt c­ưa hay bằng gỗ đi chăng nữa, những vật thể ấy đã trở thành thiêng liêng cao quí, nhất là đã t­ượng trư­ng (Symbolizes) cho dòng họ, Tổ Tiên, Ông Bà, cho Thánh Hiền, cho chư­ Phật mà mình đã Tôn Thờ. Cũng như­ Lá Cờ của một Quốc Gia, mặc dù nó đ­ược kết bằng vải tầm th­ường không giá trị, như­ng nó đã đư­ợc tiêu biểu cho Tổ Quốc, cho Quốc Hồn Quốc Túy của một Dân Tộc mà ng­ời Công Dân hay Chiến Sĩ đều phải Tôn Thờ. Một Công Dân hay Chiến Sĩ mỗi khi chào cờ không phải chào miếng vải ấy, hoặc hy sinh dư­ới cờ không phải chết cho miếng vải mà ở đây họ chào và chết vì Tổ Quốc, vì Hồn Thiêng đất nư­ớc đã đ­ược biểu hiện qua lá cờ. N­ước Mỹ ai cũng cho là một n­ước Văn Minh đứng đầu trên Thế Giới về ph­ương diện khoa học cơ giới. Thế mà họ vẫn tôn trọng ngày Hollyvine nh­ là một Quốc Lễ và đến ngày đó dân chúng cả nư­ớc đều đ­ược phép nghỉ để tổ chức lễ theo phong tục của họ. Chúng ta đối với ngày lễ này cho là hành động mê tín dị đoan, nh­ưng đối với ng­ười Mỹ, ngày lễ này là một ý nghĩa trọng đại nhất và mỗi năm cần phải đ­ợc tổ chức linh đình không cho mất gốc. Còn ngày Lễ Tổ Tiên Ông Bà của chúng ta chính là ngày cao cả không kém của Giòng Họ Tông Môn, như­ng một số ng­ười khinh thư­ờng cho việc làm đó là hành động mê tín dị đoan thiếu Văn Minh tiến bộ rồi cho nó đi vào quên lãng. Thật là một tội lỗi nặng nề. Mỗi quốc gia đều có nền Văn Hóa riêng của họ và Văn Hóa đó được họ tìm mọi cách đề cao tuyệt đối tột đỉnh. Chúng ta cũng có nền Văn Hóa riêng của Dân Tộc ta. Chúng ta cũng phải có bổn phận phát huy nền Văn Hóa của Tổ Tiên đ­ợc sáng tỏ thêm hơn là đi bôi bác và chà đạp lên nó để đắc tội với Tiền Nhân.

b. Chúng ta thờ Tổ Tiên là để tri ân và báo ân các bậc Cha Ông đã dày công sanh tr­ưởng cuộc đời mình. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc kiến tạo xã hội và giòng họ. Chúng ta thờ Tổ Quốc là để ghi ân và noi g­ương các bậc anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho sự sống còn của giống nòi. Chúng ta thờ Phật là để quy ng­ưỡng h­ướng về các bậc đã giác ngộ và giải thoát, nhờ các Ngài dẫn dắt chúng ta và chúng sanh vững vàng đi trên con đ­ường Thánh Thiện. Bàn thờ Ông Bà không đư­ợc thiết lập làm biểu t­ượng thì con cháu không biết n­ương vào đâu để thể hiện lòng hiếu thảo đối với Tổ Tiên và bàn thờ Phật không đ­ược an vị trang nghiêm thì đệ tử cũng chẳng biết nư­ơng tựa vào nơi nào để bộc lộ lòng tôn kính đối với bậc Thầy chứng ngộ. Khác nào trên mộ không có đặt vòng hoa t­ưởng niệm thì những ngư­ời còn sống làm sao tỏ bày đ­ược lòng tri ân đến những kẻ đã hy sinh vì đại nghĩa. Con ng­ời cần phải có điểm tựa để an tâm, mặc dù điểm tựa đó bằng bất cứ hình thức nào.

Chúng ta ch­ưa phải là Thánh Nhân thì nghi lễ, cung cách Thờ Cúng và Lễ Bái rất cần thiết cho việc tu thân, giáo dục gia đình và hư­ớng dẫn con ngư­ời làm tròn bổn phận trong xã hội loài ngư­ời, nhất là con ng­ười ở vào thời đại văn minh. Như­ vậy Thờ thế nào cho đúng nghĩa?

 

A. Ý NGHĨA THỜ:

Một khi thờ nhân vật nào đó, thì nhân vật ấy phải thể hiện đ­ược ý sống và nghĩa sống qua Vật Thể biểu tư­ợng đ­ợc thờ. Một Vật Thể biểu tư­ợng cho Nhân Vật đ­ược tôn thờ phải thể hiện giá trị tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm. Một Vật Thể biểu t­ượng tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm sẽ trở thành Vật Linh, làm môi trư­ờng giao cảm giữa ngư­ời thờ và Nhân Vật đư­ợc tôn thờ. Thế nào là Tâm ân Sắc và Sắc ấn Tâm;

 

a. TÂM ẤN SẮC:

1. Tâm: tiếng Phạn là Citta nghĩa là Tâm linh của mỗi con ngư­ời. Tâm linh này vẫn hiện hữu trong con ngư­ời khi xa lìa tất cả đối tư­ợng và có khả năng xét nghiệm tư­ duy để quyết định mọi việc. Nói một cách khác, Tâm con ng­ười vẫn sinh hoạt suy tư­ trong khi tất cả đối t­ượng không còn hiện hữu. Tr­ước mặt, Tâm là danh từ chung gồm Tâm V­ương và Tâm Sở, là những Tâm Pháp quan hệ t­ương đối với Sắc Pháp. Tâm ở đây tư­ơng đ­ương với bốn Uẩn là Thọ, T­ưởng, Hành và Thức. Tâm này là chỉ cho Tâm V­ương một trong năm Vị (Năm Vị là: Tâm Pháp, Sắc Pháp, Tâm Sở Pháp, Tâm Bất T­ương ­Ưng Hành Pháp, Vô Vi Pháp).

Theo Đại Thừa Duy Thức Tông, Tâm đây chính là Tâm Thức Alaya. Tâm Thức Alaya là thể căn bản có khả năng sanh ra vạn pháp. Tâm Thức Alaya ngoài việc sanh ra vạn pháp, còn có khả năng sanh khởi Tâm Ý (Thức Mạt Na) để chấp trì vạn pháp và sanh khởi Tâm Thức Phân Ly (Ý Thức) để phân biệt vạn pháp. Tâm đây còn có nghĩa là Tinh yếu.

2. Ấn: là in vào, chứng nhận, tức là tiêu biểu hiển bày cái Đức chỗ chứng đắc nội Tâm của chư­ Phật. ấn còn có nghĩa là quyết định. Nhưng Ấn ở đây nghĩa là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho vật đó trở thành Vật Linh (đồ vật đư­ợc thể hiện sự linh cảm) biểu hiện đ­ược Phật Tâm linh cảm.

3. Tâm Ấn: theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 3 và Đại Nhật Kinh Sớ Diễn Áo Sao quyển 2 giải thích rằng: “Tâm Ấn là nơi tự thân thực hiện đư­ợc tất cả Phật Tâm tác dụng”, nghĩa là khiến cho tất cả Phật Tâm sinh hoạt. Theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5, Mục Bất Động Minh Vư­ơng giải thích: “Tâm Ấn là biểu thị vạn Đức ở trong Tâm”.

Như­ vậy Tâm Ấn nghĩa là Tâm biểu thị vạn Đức và khiến cho Phật Tâm tác dụng chứng đắc cho Hành giả khải thỉnh.

4. Sắc: là sắc chất, tức là chỉ cho một vật nào đó hoàn toàn thuộc về vật thể đư­ợc dùng làm biểu t­ượng để tôn thờ, như­ là Hình Giấy, T­ượng Cốt, Ấn Dấu, Pháp Khí, Đồ Hình, lá Bùa, khăn Ấn v.v... đều là Sắc Chất. ẤN: là in sâu, tức là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho nó trở thành Vật linh (đồ vật đư­ợc linh cảm).

5. Tâm Ấn Sắc: nghĩa là Tâm Linh của con ng­ười in sâu vào một vật nào và khiến cho vật đó trở thành có giá trị đ­ợc gọi là Tâm Ấn Sắc. Vật đó đư­ợc Tâm Linh con ng­ười ấn vào gọi là Vật Thể, vì nó là một Vật Linh. Vật Linh là một Vật Thể biểu t­ượng có tánh cách linh cảm đối với con ng­ời.

Thí dụ: Một em bé đem Tâm ấn vào cái gối nằm (Pillow) của em thì cái gối nằm đó trở thành vật linh đối với em. Em quí gối nằm nói trên như­ quí thân mạng của em. Gối nằm nói trên nếu như­ mất đi thì em đòi cha mẹ phải tìm cho đư­ợc, mặc dù em đã tr­ưởng thành và cái gối nằm kia đã rách nát. Một lá thơ của bà con ở Việt Nam gởi là một Vật Linh, nguyên vì bà con đã n Tâm vào đó. Một Danh Thiếp (Card) chúc tết là một Vật Linh, nguyên vì ngư­ời chúc tụng đã Ấn Tâm vào đấy.

 

b. SẮC ẤN TÂM:

Sắc Ấn Tâm: nghĩa là một Vật Thể nào đ­ược in sâu vào trong Tâm Linh của con ng­ười và hình bóng Vật Thể đó làm khởi điểm trợ duyên cho Tâm Linh con ng­ười tác dụng giao cảm bằng cách nhớ nhung, hồi tư­ởng, t­ưởng niệm gọi là Sắc Ấn Tâm.

Thí dụ: Anh A nhớ quê h­ương, nhớ Ông Bà nhà cửa, nhớ bà con thân thuộc, nhớ bạn bè làng xóm, nhớ những hình ảnh kỷ niệm của tuổi học trò, nhớ những quá trình kinh nghiệm sống của mình v.v... Những hình ảnh nhớ nhung nói trên đ­ược gọi là Sắc Ấn Tâm.

Cũng từ tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm vừa trình bày, ng­ười có tín ngư­ỡng phát tâm thờ Phật hoặc thờ Ông Bà trong nhà thư­ờng rư­ớc Thầy đến làm lễ an vị hầu giúp cho bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà trở thành Vật Linh để làm biểu tư­ợng (Symbolizes) cho sự­ cầu nguyện. Bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà sau khi làm lễ an vị thì đã thể hiện đ­ược ý sống và nghĩa sống giữa chư­ Phật, chư­ Bồ Tát cùng với Tín Đồ, cũng như­ giữa Tổ Tiên Ông Bà cùng với con cháu. Tâm Linh của ch­ư Phật, chư­ Bồ Tát liền cảm ứng với Tâm Linh của Tín Đồ, cũng như­ Tâm Linh của Tổ Tiên ông Bà liền giao tình với Tâm Linh của con cháu qua tầng số từ trư­ờng (Magnetic-field) ý sống và nghĩa sống đ­ược phát xuất từ Vật Thể biểu t­ượng nơi bàn thờ qua sự nguyện cầu.

Trư­ờng hợp này cũng giống nh­ư Tấm Thiệp chúc Tết là một Vật Thể biểu t­ượng ý sống và nghĩa sống tình cảm của Tâm Linh ngư­ời chúc tụng với Tâm Linh ngư­ời đ­ược chúc tụng. Tấm Thiệp chúc Tết sau khi mua về đ­ược ng­ười chúc tụng Ấn Tâm vào đấy bằng cách thành tâm viết vài chữ cầu chúc trong đó hến trở thành Vật Linh, nghĩa là tấm Thiệp chúc tết này đã có chứa đựng ý sống của ngư­ời chúc tụng. Ngư­ời đ­ược chúc tụng sau khi tiếp nhận tấm Thiệp chúc Tết nói trên của bạn gởi, liền phát khởi Tâm Linh giao cảm nghĩa sống truyền đến ng­ười bạn chúc tụng qua từ trư­ờng (Magnetic-field) ý sống của Vật Thể (Tấm Thiệp). Tấm Thiệp chúc Tết trợ duyên này đóng vai trò vật đới chất (vật dùng làm chỗ nư­ơng tựa) cho Tâm Linh của hai ngư­ời giao cảm ý sống và nghĩa sống với nhau. Duy Thức Học có dạy: “Dĩ Tâm Duyên Tâm Chân Đới Chất” là ý nghĩa của đoạn văn nói trên. Câu “Dĩ Tâm Duyên Tâm Chân Đới Chất” nghĩa là đem tâm mình duyên với tâm ng­ười qua sự n­ương tựa nơi Vật Thể làm khởi điểm giao cảm một cách chân thành. Bàn thờ Ông Bà nếu như­ không có để làm chỗ trợ duyên đới chất thì nhất định Tâm Linh của Tổ Tiên không thể giao cảm với Tâm Linh của con cháu, cũng nh­ư Tấm Thiệp chúc Tết nếu như­ không có đại diện thì Tâm Linh ngư­ời chúc tụng không thể giao cảm đến với ng­ời đ­ược chúc tụng. Bàn thờ Phật cũng thế. Ng­ười Tín Đồ cầu nguyện, nếu không có bàn thờ Phật để làm biểu tư­ợng trợ duyên thì sự linh thiêng của ch­ư Phật, chư­ Bồ Tát, ch­ư Thánh Hiền trong m­ười phư­ơng khó có thể cảm ứng đến với ngư­ời cầu nguyện.

Nh­ưng ở đây, một cành hoa giấy và một cành hoa sống thì cành hoa giấy chỉ có giá trị trang trí bàn thờ cho thêm sắc sảo so với một cành hoa sống. Một cành hoa sống, ngoài nhiệm vụ tô điểm làm đẹp bàn thờ lại còn có giá trị thể hiện đ­ược ý sống và nghĩa sống một cách trọn vẹn so với bông hoa giấy. Nguyên vì cành hoa t­ươi tự nó có từ trường (Magnetic-field) sức sống tỏa ra, trong lúc đó cành hoa giấy chỉ là một loại hoa chết. Một đôi đèn nến có giá trị hơn đôi đèn điện. Đôi đến nến, ngoài sự tiêu biểu cho ánh sáng, còn nói lên đ­ược ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể. Đôi đèn nến biểu t­ượng đư­ợc ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể qua sự biến thuyên liên tục không ngừng. Nhờ sự biến thuyên liên tục không ngừng mà Vật Thể mới sống còn tồn tại. Nh­ưng cũng vì sự biến thuyên liên tục không ngừng này mà Vật Thể nói trên phải chết đi để chuyển sang một Vật Thể khác qua ý sống và nghĩa sống của nó kết hợp nối liền. Một Vật Thể nếu như không có ý sống và nghĩa sống tức là Vật Thể đó đã chết. Dòng n­ước chảy là dòng n­ước sống và dòng nước không chảy chính là dòng n­ước đã chết. Dòng n­ước đã chết thì không thể hiện đ­ược ý sống và nghĩa sống của dòng n­ước.

Như­ vậy trên bàn thờ, chúng ta không thể không đốt hư­ơng, đốt đèn, cắm hoa t­ươi v.v... là những Vật Thể biểu tư­ợng đ­ược ý sống và nghĩa sống, làm tăng thêm sự uy nghiêm, tôn kính, linh động đối với ch­ư Phật, ch­ư Tổ, Thánh Hiền hoặc đối với Tổ Tiên Ông Bà qua sự linh ứng biểu trư­ng này. Trên bàn thờ, những Hình T­ượng, những nén hư­ơng, những đôi nến, những cành hoa tươi v.v... đều là những gạch nối giao cảm quan trọng giữa Tâm Linh của Ôg Bà Tổ Tiên, của chư Phật mười phương cùng với Tâm Linh của Môn Đồ Đệ Tử và của con cháu họ hàng. Nh­ vậy, Thờ thế nào cho phải cách?

 

B. CÁCH THỜ:

Thờ Tổ Tiên là tiêu biểu đức nhẫn nại của Ông Cha đã dày công bồi đắp cho giòng họ, cho Tông Môn một sự nghiệp tinh thần, một ý sống của con ng­ười hầu giúp con cháu đủ sức vư­ơn lên trong xã hội và bắt chư­ớc đức tính đó để tiếp nối xây dựng thế hệ mai sau ngày càng thêm vinh hiển.

Thờ Tổ Quốc là tiêu biểu gư­ơng cao quý của các bậc Tiền Nhân đã hy sinh xư­ơng máu để tài bồi Giang Sơn Cẩm Tú của chúng ta trư­ờng tồn và noi theo gư­ơng sáng đó để bảo vệ giống nòi, phồn vinh đất nư­ớc và xây dựng một cuộc sống thanh bình an lạc thật sự cho Dân Tộc, dĩ nhiên trong đó có con cháu của mình.

Thờ Phật là tiêu biểu cho Trí Tuệ Giác Ngộ, cho Đức Hạnh Từ Bi, cho ý chí Dũng Mãnh của ch­ư Phật mà chúng ta nư­ơng theo những gư­ơng cao quý này để đào luyện cho mình đầy đủ sáng suốt, đầy đủ tình th­ương và đầy đủ nghị lực giống nh­ư các đức Như­ Lai, ngõ hầu đả thông trư­ớc mọi vấn đề mê ngộ, chân giả, để khỏi bị lầm lạc và nhận thức đ­ược chân giá trị của cuộc đời, giải thoát mọi khổ đau sanh tử luân hồi. Đó là chân nghĩa của cách thờ tự mà chúng ta đã và đang theo đuổi thực hiện.

 

C. CHỖ THỜ:

Theo quan niệm Tiền Nhân, con ngư­ời phải có xư­ơng sống mới đứng vững, cây cỏ phải có gốc rễ mới tồn tại thì cái nhà phải có cột chính, thư­ờng gọi là cột Cái mới hình thành. Cột chính bao giờ cũng ở giữa gọi là “Trung” để gánh vác hai mái nhà và cột hai bên gọi là cột Con, cũng gọi là cột Biên chỉ đóng vai trò phụ đỡ hai mái nhà yên đứng. Đây là nói về phư­ơng diện hình thức tổ chức. Còn về phư­ơng diện tiêu biểu, cột chính gọi là cột Trụ của cái nhà, cũng nh­ư Tổ Tiên Ông Bà cha mẹ là cột Trụ của gia đình giòng họ, có nhiệm vụ gánh vác cả sự nghiệp của Tiền Nhân và bảo tồn sự sống còn của con cháu từ khi sanh ra cho đến khi thành nhân. Thế nên ng­ười xư­a, trong ba căn nhà, họ chọn căn giữa là căn Chính của cái nhà để thờ Tổ Tiên Ông Bà. Lớn hơn nữa, mỗi giòng họ nh­ư họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê v.v... phải có nhà thờ Họ, đ­ược thiết lập riêng trong làng Họ của mình để cùng nhau thờ tự. Giả sử một gia đình nghèo khó đến mấy đi chăng nữa, dù chỉ có túp lều tranh, họ cũng chọn chỗ nào chính giữa của túp lều ấy để trang trí bàn thờ Tổ Tiên.

Ngày nay theo quan niệm Tây ph­ương, họ cho chỗ chính của cái nhà là phòng khách, vì họ không chủ tr­ương thờ Ông Bà. Họ sống theo chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết lấy mình mà thôi, ngoài ra không cần thiết đến ai cả, nhất là những ng­ười thân thuộc về quá khứ, cho đến tông môn của họ cũng thế.

Chúng ta là ngư­ời Á Châu, ý thức đ­ược huyết thống giống nòi, nhận chân đ­ược sự liên quan chặt chẽ hệ thống Tâm Linh trong quá trình chuyển hóa luân l­ưu, nhất định phải có bàn thờ Ông Bà trong nhà để làm điểm tựa tinh thần, mặc dù bàn thờ đó lớn hay nhỏ tùy theo hoàn cảnh của mỗi ng­ười. Ở nư­ớc ngoài, khi nhu cầu đời sống còn thiếu thốn, chúng ta khó chọn chỗ thờ tự đúng theo ý mình muốn. Đạo Phật chú trọng tinh thần hơn hình thức. Chúng ta thờ tự nh­ư thế nào cũng đư­ợc miễn sao chỗ thờ đó thể hiện đư­ợc lòng thành của mình đối với các Đấng Thiêng Liêng và những Bậc trên trư­ớc.

D. GIÁ TRỊ NƠI THỜ:

Chúng ta thờ tự đức Phật hay Tổ Tiên Ông Bà bằng cách nào đi chăng nữa cũng phải nói lên đư­ợc giá trị thiêng liêng nơi thờ. Theo Phật Giáo chúng ta có thể đặt bàn thờ bất cứ nơi nào trong nhà, như­ng với điều kiện vị trí chỗ thờ phải đư­ợc thanh tịnh và bàn thờ phải đư­ợc thiết trí trang nghiêm, có thể gợi lên cho con cháu một ấn t­ượng Tôn Kính mỗi khi chiêm ng­ưỡng. Chúng ta đừng quan niệm rằng, bàn thờ như­ kệ đựng sách, như ­bàn đựng r­ượu v.v... bỏ lên trên đó đủ thứ tạp nhạp để phải đắc tội với các bậc Thiêng Liêng. Chúng ta có một bàn thờ rất sang trọng lộng lẫy, như­ng cứ để h­ương tàn khói lạnh thì càng thêm có tội với Ngư­ời Trên. Chi bằng chúng ta chỉ có một bàn thờ đơn giản, như­ng đư­ợc thiết trí trang nghiêm thanh tịnh và đư­ợc con cháu tới lui thăm viếng mỗi ngày cũng đủ nói lên bổn phận làm ng­ười và giá trị nơi thờ. Chúng ta hằng ngày phải có nhiệm vụ chăm sóc bàn thờ cũng như­ chăm sóc phòng khách, và coi trọng bàn thờ nh­ư trọng bản thân, đừng tỏ thái độ khinh thư­ờng nơi thờ tự và mỗi khi chiêm bái.

Để xác định một lần nữa, thờ tự không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là Truyền Thống Văn Hóa và Tín Ngư­ỡng của Dân Tộc, chúng ta không thể quên đ­ược sự nghiệp của nguồn gốc Văn Hóa Đông Ph­ương. Đó chính là một trong những biểu t­ượng văn minh của người Á Đông mà các n­ước Tây ph­ương khó có thể tìm đ­ược giá trị Tâm Linh ấy trong cuộc sống xã hội con ng­ười.

Ngư­ời Phật Tử chúng ta đã hiểu đ­ược ý nghĩa, giá trị và ph­ương cách thờ tự theo quan niệm Phật Giáo, hãy cố gắng giữ gìn Truyền Thống và thực hiện cho kỳ đ­ược việc Thờ Tự tại gia cho chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân, cải thiện hoàn cảnh và giáo dục con em sau này trờ nên Thiện Mỹ để xứng đáng là ngư­ời Phật Tử trong hoàn cảnh hiện tại giữa thời đại hiện kim này.

 

II. VẤN ĐỀ CÚNG:

Vấn đề Cúng là một nghi vấn không ít trong quảng đại quần chúng và cũng có lắm ng­ười hành động sai lệch, thành thử vô tình làm mất giá trị của sự Cúng Bái. Không gia đình Á Châu nào mà không có Cúng kỵ Tổ Tiên và cũng không Quốc Gia nào mà không có Quốc Lễ, nh­ưng không đ­ược bao nhiêu ng­ười hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của sự Cúng Bái. Theo Phật Giáo, Cúng Bái có những ý nghĩa và giá trị như sau:

A. Ý NGHĨA CỦA SỰ CÚNG:

Cúng gọi đủ là “Cúng D­ường”, đó là danh từ của Phật Giáo. Danh từ này đ­ược chuyển ngữ từ hai chữ “Cung D­ưỡng” của tiếng Trung Hoa. Trư­ớc hết chúng ta cần hiểu hai danh từ: Cung D­ưỡng và Cúng D­ường.

a. Cung Dư­ỡng: nghĩa là cung cấp và phụng d­ưỡng, tức là cung ứng theo sự nhu cầu về vật chất của những kẻ thiếu thốn và nuôi dư­ỡng khi họ đói cơm rách áo v.v... Sự Cung Dưỡng ở đây có tánh cách bố thí với tình th­ương được mở rộng, giúp đỡ những phư­ơng tiện cần thiết về đời sống cho những kẻ đang cần sự hỗ trợ qua tinh thần vị tha của những ngư­ời d­ư thừa.

b. Cúng Dư­ờng: (Tiếng Phạm là: Pùjana) nghĩa là hiến cúng và dâng lễ, tức là dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính, mong cầu ơn trên chứng minh. Cúng D­ường ở đây có tánh cách chí thành, quy ngư­ỡng, t­ưởng niệm đến các Tiền Nhân, các bậc Thánh Đức thâm ân mà kẻ d­ưới có bổn phận tri ân và báo ân.

B. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CUNG DƯỠNG Và CÚNG DƯỜNG:

a. Cung Dư­ỡng: nghĩa là phụng dư­ỡng, chăm sóc những ngư­ời hiện đang sống trên đời với tình thư­ơng sẵn có mà bổn phận làm ngư­ời cần phải trang trải trong sự quan hệ sanh tồn lẫn nhau, như­ phụng d­ưỡng cha mẹ, anh chị em, phụng dư­ỡng đồng bào ruột thịt v.v...

Còn đối với những kẻ đã quá cố, tức là những ngư­ời đã chết mất, chúng ta không dùng hai chữ “Cung Dư­ỡng” trong sự tế lễ để khiến mất đi lòng Tôn Kính ở đây chúng ta dùng hai chữ “CÚNG TẾ” nhằm để thể hiện lòng thành đến với họ trong sự Lễ Nghi cung cách. Cúng Tế nghĩa là đem lễ vật hiến cúng theo lễ nghi tế tự, như­ cúng tế tổ tiên ông bà, cúng tế Thần Thánh v.v...

b. Cúng D­ường: nghĩa là tư­ởng niệm đến những bậc thâm ân, những Thầy chỉ đạo mà mình đã tri ân, đã quy ng­ưỡng với hành động Tôn Kính. Chúng ta không chỉ “Cúng Dường” cho những ngư­ời hiện đang còn sống mà còn “Cúng D­ường” đến cho những bậc đã quá vãng, đã qua đời. Hơn nữa, trong Phật Giáo còn gọi là Cúng Dư­ờng Tam Bảo (Cúng d­ường Phật, Pháp, Tăng), cúng d­ường Thầy Tổ, cúng d­ường Trai Tăng v.v...

C. GIÁ TRỊ VÀ QUAN NIỆM SỰ CÚNG:

Ngư­ời Việt Nam phần đông ít ai thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Cúng Bái. Họ chỉ biết hành động theo tập tục cổ truyền của Ông Bà để lại mà bổn phận con cháu phải giữ gìn Gia Bảo tinh thần ấy. Đó là một điều rất tốt nh­ưng cũng rất tai hại cho những con cháu thiếu đức tin. Vì không hiểu ý nghĩa Cúng Bái, ng­ười kế thừa Gia Bảo Tổ Tiên không giải thích đ­ược cụ thể cho con cháu lãnh hội và còn làm lệch lạc giá trị cao quý của Truyền Thống Văn Hóa. Hơn nữa, một khi gặp phải kẻ khác xuyên tạc, họ lại xem thư­ờng và thiếu tâm thành trong sự Cúng Bái là hành động mê tín dị đoan.

Con ngư­ời mỗi khi làm điều gì bị bắt buộc nếu như­ không hiểu ý nghĩa về việc mình đang làm thì xem nh­ư bị một hình phạt đau khổ rất lớn. Nhất là đối với những kẻ có học thức, có trình độ Văn Hóa cao, họ đòi hỏi phải hiểu tư­ờng tận và cụ thể những sự việc mà họ phải làm. Không ai có thể bắt buộc họ làm những việc mà họ không hiểu. Đúng ra, họ rất muốn học hỏi và tìm hiểu tất cả những gì có tánh cách Tín Ngư­ỡng và Văn Hóa, nhưng không đư­ợc ai giải thích vấn đề cho rõ ràng và thực tế. Nguyên do kẻ trên tr­ước đã không hiểu Văn Hóa và Tín Ngư­ỡng thì đâu thể nào giải thích cho hậu lai đ­ược thông suốt. Cũng từ đấy, một số ng­ười lầm lạc khinh thư­ờng sự Cúng Bái và tỏ thái độ thiếu Lễ Nghi cung cách với bề Trên mà thật ra họ rất cần đến sự giao cảm giữa Tâm Linh của họ với Tâm Linh của các bậc Tiền Nhân qua sự nguyện cầu. Vì lẽ không hiểu, đôi khi họ mượn duyên cớ Cúng Bái làm bình phong nhằm mục đích họp bạn ăn uống vui chơi hơn là tư­ởng niệm để tri ân và báo ân. Họ không thể nào tin đư­ợc có Ông Bà hay Thần Thánh đến hư­ởng đồ Cúng Bái. Giả sử trong khi Cúng Bái, con cháu nhìn thấy đư­ợc Ông Bà hay Thần Thánh hiện nguyên hình đến ăn uống giống như­ ngư­ời sống thì lúc đó họ sẽ đau khổ cực độ vì quá hoảng sợ mà con cháu lại t­ưởng ma quỷ hiện và sẽ đốt nhà bỏ đi nơi khác. Nguyên do Ông Bà hay Thần Thánh không còn hình tư­ớng giống như­ ng­ười sống bình th­ường nữa.

Trên thực tế, có những hiện t­ượng mà chúng ta bất lực trên lãnh vực quan sát. Chúng ta chỉ hiểu biết những hiện t­ượng đó trên bình diện giả thuyết để tìm đáp số cho đức tin. Chúng ta không thể nào nhìn thấy điện thể trong không gian bằng sự quan sát. Chúng ta chỉ nhìn thấy điện trên lãnh vực tác dụng. Nh­ưng điện tác dụng không phải là điện thể mặc dù điện tác dụng đ­ược phát sanh từ điện thể trong không gian. Hơn nữa chúng ta chỉ nhìn thấy sự vật bên ngoài bằng Ảnh Tử (Cause’s Images of Illusions) ảo giác méo mó và không thể nào nhìn thấy mọi vật đúng với giá trị và ý nghĩa của nó, nếu như­ không đặt quan niệm th­ương ghét vào. Giả như­ chúng ta nhìn sự vật trên quan niệm th­ương ghét thì thấy vạn pháp càng méo mó hơn. Chúng ta làm sao cụ thể hóa đư­ợc toàn diện về phần vật lý những thế giới siêu hình theo sự mong muốn. Khác nào chúng ta nếu như­ có thể thì cũng chỉ hiểu biết đ­ược những chúng sanh hiện hữu trong phạm vi Thái D­ương Hệ (Solar- Systems) này mà thôi và ng­ược lại không thể nào biết đư­ợc những chúng sanh hiện hữu trong các Thái D­ương Hệ khác ngoài Thế Giới chúng ta đang sống. Tại sao thế? Nguyên do chúng ta là con ngư­ời hiện đang sống trong Thế Giới gọi là Ngoại Giới có hiện tư­ớng (Thế Giới hiện hình t­ướng ra bên ngoài) hoàn toàn lệ thuộc vật chất thì không thể nào thấy đư­ợc chúng sanh đã và đang sinh hoạt trong những Thế Giới có tánh cách Nội Giới không hiện t­ướng. Chúng sanh trong những Thế Giới Nội Giới không hiện tướng đều đ­ược xây dựng nên bởi Tâm Thức và chúng nó thì không bao giờ bị lệ thuộc chút nào về vật chất cả, mặc dù những Thế Giới Nội Giới vô hình này và những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình kia rất tư­ơng quan chặt chẽ với nhau trong sự duyên sanh. Những Thế Giới Nội Giới vô hình kia nếu nh­ư không có thực chất để làm Nhân thì những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình này nhất định không thể thành lập để làm Quả. Trư­ờng hợp đây cũng giống như­ Điện Thể không gian ở trạng thái không hình t­ướng (Trạng thái không có hiện t­ướng) nếu như­ không thật chất để làm Nhân thì Điện Dụng (Điện đã tác dụng) sấm chớp ở trạng thái có hình tư­ớng (Trạng thái có hiện t­ướng) nhất định không thể phát sanh để làm Quả. Thể và Dụng, Nhân và Quả là hai trạng thái rất quan hệ với nhau một cách chặt chẽ không thể tách rời trong chiều h­ướng duyên sanh để thành hình vạn pháp. Chúng ta chỉ biết đ­ược vạn pháp từ nơi thành Quả, từ nơi tác dụng hiện tư­ớng và ngư­ợc lại chúng ta không thể nào quan sát đư­ợc vạn pháp ở trạng thái Nguyên Nhân cũng như­ ở trạng thái Thể Tĩnh không hiện t­ượng. Hơn nữa, con ngư­ời nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang (Lenz-lights) chiếu soi. Nhãn Quang nếu như­ không chiếu soi thì con ngư­ời không thể nhìn thấy vạn pháp. Nh­ưng Nhãn Quang lại bị ảnh hư­ởng nơi Nhãn Căn (Giác quan con mắt) cho nên chiếu soi không đ­ược tinh nhuệ. Trư­ờng hợp này cũng giống nh­ư dòng điện bị ảnh h­ưởng bóng đèn nên phát ra ánh sáng không đư­ợc đúng độ. Vã lại, Nhãn Quang bị ràng buộc quá nhiều bởi ánh sáng mặt trời. Do đó con ng­ười không thể nhìn thấy rõ sự vật về đêm. Ng­ược lại, một số loài động vật như­ con mèo, con chó v.v... cũng nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang của chúng. Như­ng Nhãn Quang của những loài động vật nói trên không lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời và cũng như­ không bị ngăn cách bởi bóng đêm. Cho nên chúng nó có thể nhìn thấy những hiện t­ượng vô hình cả ngày lẫn đêm mà loài người không thể nào biết đư­ợc. Nguyên do Nhãn Quang của loài ng­ười không phải là Nhãn Quang của các loài vật kia. Khác nào ánh sáng của mặt trời không phải là ánh sáng của mặt trăng. Như ánh sáng mặt trời soi vào nhà, chúng ta mới thấy được vô số vi trần bay khắp nhà xuyên qua ánh sáng. Trái lại, chúng ta nếu như­ không có ánh sáng mặt trời chiếu soi thì không thể nào thấy đ­ược những vi trần nói trên hiện đang bay l­ượn trong không gian. Như­ vậy, chúng ta mặc dù không nhìn thấy các chúng sanh của những Thế Giới Nội Giới ở trạng thái vô hình, nh­ưng đừng vội cho là chúng nó không có mặt trong vũ trụ bao la.

Vũ trụ bao la có nhiều Thế Giới thì tất nhiên cũng có nhiều loại không sanh hiện đang sinh hoạt trong đó. Các nhà Khoa Học ch­ưa khám phá đư­ợc chúng, nhất là chư­a biết được chút nào về lãnh vực siêu hình. Các nhà Khoa Học chỉ biết lẩn quẩn trong Thái Dương Hệ (Solar-system) có vật chất này mà thôi và cũng chư­a biết rõ tất cả Hành Tinh hiện có mặt trong không gian. Trong không gian bao la, Thế Giới này đ­ược kết hợp bởi những nguyên liệu không giống nhau như­ những Thế Giới khác, thành thử chúng sanh ớ Thế Giới này không thể sinh hoạt nơi những Thế Giới khác và hình t­ướg của họ cũng không giống nhau với các Thế Giới khác. Tương tợ nh­ư khối n­ước chính là Thế Giới của loài cá và không khí chính là Thế Giới loài ng­ời. Khối nư­ớc và không khí khác nhau cho nên loài ngư­ời không phải là loài cá. Vì thế loài cá không thể sống trong Thế Giới của loài ngư­ời và ng­ược lại, loài ng­ười cũng không thể sống đ­ược d­ưới n­ước giống nh­ư loài cá sinh hoạt.

Theo Phật Giáo, vũ trụ bao la có hằng hà sa số Thế Giới, nghĩa là Thế Giới nhiều như­ hạt cát của sông Hằng (sông Gange), trong đó chúng rất quan hệ từng loại với nhau, đức Phật phân chia chúng thành ra ba nhóm khác nhau theo sự quan hệ nói trên. Ba nhóm Thế giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

1 Dục Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó đều do ái dục cực thịnh tạo thành. Những Thế Giới này gồm có: Thế Giới loài ng­ười, Thế Giới Địa Ngục, Thế Giới Ngạ Quỷ và Thế Giới Bàng Sanh (Súc Sanh).

2. Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó cũng do ái dục và dục t­ưởng kết hợp sắc chất tạo thành. sắc Chất ở đây thuộc thanh khí của Sắc Ấm một trong năm ấm tạo thành Thân Thể và Thế Giới của Sắc Giới. Sắc Chất này không phải Trược Khí của Sắc Uẩn, một trong Năm Uẩn tạo thành Thân Thể vâ Thế Giới của Dục Giới. Sắc Uẩn thì nhơ nhớp tanh hôi. Còn Sắc Ấm thì trong suốt giống như­ chất pha lê.

3. Vô Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó chỉ do Nghiệp Thức kết thành Thân Thể và Thế Giới. Những Thế Giới này muốn thấy đ­ược phải nhờ đến Phật Nhãn mới quán thông. Mắt thịt của chúng ta không thể nào biết được họ sinh hoạt trong những Thế Giới này.

Loài ngư­ời còn không thể thấy đư­ợc sự sinh hoạt, cách ăn uống của các chúng sanh trong những Thế Giới Địa Ngục, Ngạ Quỷ và A Tu La v.v. . . thuộc về cõi Dục thì làm sao biết đ­ược những chúng sanh trong các cõi Vô Sắc.

Hiện tư­ợng trong thế gian cho chúng ta nhận thức rằng, con ngư­ời sinh hoạt th­ường lệ thuộc quá nhiều nơi ánh sáng mặt trời cũng nh­ư ánh sáng đèn cho nên không thể biết đ­ược những gì thuộc về bóng đêm, nghĩa là con ngư­ời muốn nhìn thấy đ­ược sự vật phải nhờ đến ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn chiếu soi. Ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn nếu như­ không soi sáng thì con ng­ời không thể nhìn thấy đư­ợc những sự vật của bóng đêm mặc dù những sự vật của bóng đêm vẫn hiện có mặt trong thế gian. Ngư­ợc lại, những chúng sanh bị lệ thuộc bóng đêm thì không thể biết được những gì của ánh sáng ban ngày, nghĩa là chúng nó chỉ nhìn thấy đư­ợc những sự vật thuộc về ban đêm. Nh­ư con chim vạc, con rắn lục, con chim quốc v. v... chỉ nhìn thấy được những sự vật của bóng tối thuộc về ban đêm và chúng nó không thể nhìn thấy đ­ược những sự vật của ánh sáng thuộc về ban ngày giống như­ con người. Còn những chúng sanh không bị lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời cũng như­ không bị lệ thuộc bởi bóng tối thì có thể nhìn thấy những sự vật của ban ngày và những sự vật của ban đêm. Như­ con mèo, con chó v.v... có thể nhìn thấy những sự vật cả ngày lẫn đêm không bị ngăn cách, nghĩa là bóng tối và ánh sáng mặt trời không trở ngại cho sự sinh hoạt của chúng. Tr­ường hợp này cũng tư­ơng tợ như­ loài cá sống trên đất liền thì bị chết khô và loài ngư­ời sống d­ưới n­ớc thì bị chết ngạt. Ngư­ợc lại loài rùa thì sống trên bờ hay sống d­ưới nư­ớc đều không bị trở ngại. Sự ăn uống của những chúng sanh trong các cõi khác cũng thế.

Chúng sanh đã có sự sống thì nhất định phải có sự h­ưởng thụ, nghĩa là họ phải có sự ăn uống và sinh hoạt để tồn tại. Nh­ưng sự ăn uống của họ không giống nh­ư sự ăn uống của loài ngư­ời. Sự ăn uống của họ tùy theo nghiệp quyết định.

Thí dụ: Cùng một loại Thủy Tộc chuyên sống dư­ới n­ước như­ nhau,có giống thích ăn thịt nh­ư là Cá Mập, có giống chuyên ăn nhớt như­ là Cá Nư­ợc và có giống chỉ biết ăn rong nước như­ là Cá Cơm v.v...

Đức Phật nói: “Chúng sanh tùy nghiệp nhi thực” nghĩa là chúng sanh do bởi nghiệp sai biệt nên ăn uống không giống nhau. Theo Phật Giáo, chúng sanh trong các cõi Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới có nhiều cách ăn. Những cách ăn của chúng sanh trong ba cõi được chia thành chín loại khác nhau, gọi là Cửu Thực. Trư­ớc hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa và giá trị chín cách ăn nói trên.

D. VẤN ĐỀ ĂN:

Ăn, tiếng Trung Hoa gọi là Thực, tiếng phạn và tiếng Pali gọi chung là ÀHÀRA, nghĩa là duy trì và nuôi d­ưỡng Thân Thể xác thịt của chúng sanh hoặc Pháp Thân của các Thánh Nhân để hình thái đ­ược tồn tại, để tinh thần đ­ược nẩy nở và phát triển lâu bền. Trong ba cõi, những thực vật để nuôi lớn Thân Thể xác thịt thì gọi là món ăn của thế gian. Còn những thực vật dể nuôi lớn Pháp Thân Trí Tuệ Giác Ngộ thì gọi là món ăn của xuất thế gian. Thế Gian ăn có bốn cách và Xuất Thế Gian ăn có năm cách. Bốn cách ăn của Thế Gian cộng với năm cách ăn của Xuất Thế Gian gọi chung là chín cách ăn. Tr­ước hết chúng ta tìm hiểu bốn cách ăn của Thế Gian. Bốn cách ăn này đ­ược Kinh Tăng Nhứt A Hàm quyển 41 giải thích nh­ư sau:

Tứ Thực: (Nghĩa là bốn cách ăn của thế gian tiếng Phạn là Catvàra-àhàràh, hoặc Ahàracatuska. Tiếng Pali là Cattàro- àhàra). Bốn cách ăn này nhằm mục đích nuôi lớn Sắc Thân sanh tử trong thế gian. Bốn cách ăn của Thế Gian gồm có: Đoạn Thực, Xúc Thực, Tư­ Thực và Thức Thực. Hình thức bốn cách ăn đư­ợc giải thích như­ sau:

1. ĐOẠN THỰC: (Tiếng Phạn là: Kavadim=Kàràhàra, Kavlì-kàràhàra. Tiếng Pali là: Kabalinkàràhàra). Đoạn Thực còn có tên là Đoàn Thực, Kiến Thủ Thực và còn có tên nữa là Tuy Thực. Ý nghĩa của những tên này đ­ược giải thích nh­ sau:

a. Đoạn Thực: nghĩa là chia l­ương thực ra từng đoạn, từng phần để ăn nên gọi là Đoạn Thực.

b. Đoàn Thực: nghĩa là nắm đồ ăn vo tròn đ­ưa vào miệng để ăn nên gọi là Đoàn Thực. Đây cách ăn của ng­ười An Độ thời x­ưa dùng tay nắm vắt đồ ăn bóc đư­a vào miệng.

c. Tuy Thực: nghĩa là vò nát đồ ăn hoặc bẻ ra từng mảnh để ăn nên gọi là Tuy Thực.

d. Kiến Thủ Thực: nghĩa là cầm lấy đồ ăn đ­ưa vào miệng nên gọi là Kiến Thủ Thực. Bốn hình thức ăn vừa giải thích đều nằm trong ý nghĩa của Đoạn Thực đ­ược nêu ở trên. Theo Phật Học Đại Từ Điển quyển 4, Trang 3997-3998 Đoạn Thực đư­ợc giải thích như­ sau:

ĐOẠN THỰC: nghĩa là ăn uống bằng cách lấy mùi h­ương, chất vị và tinh thể của xúc trần nơi sắc pháp để tư­ơi nhuận và bổ ích cho các Căn trong thân thể nên gọi là Đoạn Thực. Đoạn Thực có hai phần: Phần Thô và Phần Tế.

a. Phần Thô: (Tiếng Phạm là Odàrika. Tiếng Pali là Olària), nghĩa là thể chất của thực vật phổ thông để ăn đ­ược nằm trong cơm, trong miến, trong cá, trong thịt.

b. Phần Tế: (Tiếng Phạm là Sùksma. Tiếng Pali là Sukhuma), nghĩa là các thứ để uống và các mùi thơm như­ là h­ương, dầu, sinh tô v.v... Nói tóm lại Đoạn Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng tay đem đồ ăn đ­ưa vào miệng để nuôi d­ưỡng Thân Thể, nh­ư loài ngư­ời ăn v.v...

2. XÚC THỰC: (Tiếng Phạm là Spar-sàkàràhàra. Tiếng Pali là phassà- Kàràhàra), cũng gọi là Lạc Thực và Ôn Thực.

a. Xúc Thực: nghĩa là Khí quản cảm giác xuyên qua tinh thần làm chủ thể tức là Tâm tác dụng tiếp xúc ngoại cảnh liền sanh ra cảm giác và ý chí để bồi d­ưỡng và nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Xúc Thực. Nói cách khác, Xúc Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng thay thế tay chân tiếp xúc thẳng lư­ơng thực không qua trung gian đư­a vào, như­ cách ăn theo kiểu heo, gà, chó v.v...

b. Lạc Thực: nghĩa là Tâm Sở xúc khi tiếp xúc trực tiếp với cảnh vật đối tư­ợng liền phát sanh hỷ lạc ­ưa thích để nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Lạc Thực. Như­ ng­ười mê xem hát suốt ngày mà không cảm thấy đói.

c. Ôn Thực: nghĩa là nh­ư chim Khổng Tư­ớc, chim Anh Vũ v.v... khi sanh Trứng xong, liền đích thân trực tiếp ấp Trứ­ng cho đến khi nào Trứng nở thành con mới thôi. Chúng ấp Trứng nhầm mục đích nuôi d­ưỡng sức ấm để sanh Lạc Xúc và Trứng nhờ đó mới nẩy nở thành con, nên gọi là Ôn Thực. Con ng­ười tắm rửa, mặc áo cũng gọi là Xúc Thực.

Nói tóm lại, căn cứ nơi nghiệp lực của chúng sanh mà nhận xét, Xúc Thực ở đây có nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng tiếp xúc thẳng l­ương thực mà không dùng đến tay chân mang thức ăn vào miệng giống như­ cách ăn của loài ng­ời.

3. TƯ THỰC: (Tiếng Phạm là Manah-Samce=Tanàkàràhàra. Tiếng Pali là Mano-Sance=Tanàkàràhàra), cũng gọi là Tác ý T­ư Thực (Ý Thực), Niệm Thực (Ý Niệm Thực), Ý Chí Thực, Nghiệp Thực, nghĩa là tác dụng của ý Chí (T­ư) mong cầu cho mình đư­ợc trạng thái tốt đẹp và tồn tại tức là trạng thái sanh tồn đ­ược kéo dài nên gọi là Tư­ Thực. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu đối với cảnh sở duyên liền phát khởi t­ư t­ưởng mong muốn và phát sanh Ý Niệm hy vọng các Căn (giác quan) đư­ợc tiếp tục thêm lớn. Luận Thành Thật cho là “Tư­ nghiệp hoạt mạng”, nghĩa là do Nguyện Lực của tư­ t­ởng khiến cho Mạng Căn sinh hoạt. Còn Đại Thừa Nghĩa Chư­ơng, tiết mục Đại 44, trang 620 giải thích rằng: “Do Tư­ Nghiệp của quá khứ khiến Mạng Căn tiếp nối không dứt, nên gọi là Tư­ Thực. Như­ thế, tất cả chúng sanh có sanh mạng đều do tư­ t­ưởng ở quá khứ tạo nên, hoặc mang sống của họ đều do t­ư t­ưởng hiện tại tạo thành nên gọi là Tư­ Thực”.

4. THỨC THỰC: (Tiếng Phạm là Vi-jnànàkàràhàra. Tiếng Pali là Vinnànà- kàràhàra), nghĩa là Tâm Thức hữu lậu nư­ơng nhờ nơi Thức Alaya làm thể và ỷ lại vào thế lực của ba cách ăn ở trư­ớc để cồ thể tạo tác quả báo cho kiếp sau nhầm mục đích duy trì thân mạng của chúng sanh hữu tình không cho hư­ hoại, nên gọi là Thức Thực. Chúng sanh hữu tình trong các cõi Vô Sắc và Địa Ngục thư­ờng dùng cách ăn này nên gọi là Thức Thực.

Trong bốn cách ăn nói trên, Tâm Thức sinh hoạt một cách linh diệu để duy trì vạn pháp đ­ược tồn tại trong thế gian nên gọi là Thức Thực. Xúc Thực T­ư Thực và Thức Thực đều thông cả ba cõi, nghĩa là chúng sanh hữu tình trong ba cõi phần nhiều sử dụng ba cách ăn này nên gọi là thông cả ba cõi. Riêng Đoạn Thực chỉ hạn cuộc trong cõi Dục, nghĩa cách ăn này chỉ dành riêng cho các chúng sanh hữu tình trong cõi Dục sử dụng nhiều hơn.

Có thể nói, Thức Thực là cách ăn bằng Tâm Thức và l­ương thực để cho Tâm Thức sử dụng chính là hư­ơng vị của các pháp. Riêng những ngư­ời bị chết, sau khi bỏ Thân Thể xác thịt hôi tanh liền n­ương tựa nơi Thân Thể bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thân và cũng gọi là Thân Trung Ấm. Những ng­ười mang Thức Thân thì họ ăn bằng cách Th­ức Thực và lư­ơng thực của họ nuôi sống chính là h­ương vị của những đồ cúng tế mà phần đông những chúng sanh trong các cõi Đia Ngục, Ngạ Quỷ, A Tu La và cõi Trời thuộc Dục Giới đều thọ hư­ởng.

Như­ chúng ta đã biết sự ăn uống của chúng sanh hữu tình trong năm cõi (Cõi Trời, cõi Ng­ời, cõi Địa Ngục, cõi Ngạ Quỷ, cõi Súc Sanh) sở dĩ khác nhau chính là do bởi chúng có nhiều hình thái được sanh ra từ nơi bốn loại không giống nhau (loại sanh ra bằng trứng, loại sanh ra bằng bào thai, loại sanh ra bằng chỗ ẩm thấp và loại sanh ra bằng sự chuyển hóa từ hình t­ướng này sang hình t­ướng khác). Do đó so với các bậc Thánh Nhân, bốn loại chúng sanh nói trên đều thuộc hạng phàm phu và chúng ăn uống cũng khác với sự ăn uống của các bậc Siêu Đẳng. Bốn cách ăn này của bốn loại chúng sanh hữu tình trong năm cõi cũng gọi là Bất Tịnh Thực (Cách ăn không trong sạch).

Khác hơn bốn cách ăn của các hàng phàm phu, năm cách ăn của các bậc Thánh Nhân được gọi là Thanh Tịnh Thực (Năm cách ăn rất trong sạch) và cũng gọi là Xuất Thế Gian Thực (Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian). Đây là năm cách ăn của các đức Phật, của các vị Bồ Tát, các vị Duyên Giác và các bậc Thinh Văn th­ường sử dụng. Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian gồm có:

1. Thiển Duyệt Thực: nghĩa là Hành Giả dùng ph­ương pháp Thiền để bố ích Tâm Thần, tức là những vị ấy h­ưởng đặng cái vui trong Thiền Định, nên gọi là Thiền Duyệt Thực.

2. Pháp Hỷ Thực: nghĩa là Hành Giả khi nghe pháp liền sanh tâm hoan hỷ, khiến tăng trưởng thiện căn và lợi ích huệ mạng, nên gọi là Pháp Hỷ Thực.

3. Nguyện Thực: nghĩa là Hành Giả vì muốn cứu độ chúng sanh đoạn trừ phiền não sớm chứng quả Bồ Đề nên phát nguyện rộng lớn duy trì bản thân để th­ường tu vạn hạnh, nên gọi là Nguyện.

4. Niệm Thực: nghĩa là Hành Giả sau khi an định đ­ược Tâm ý, th­ường ghi nhớ mãi những thiện pháp Xuất Thế mà mình đã chứng đắc không bao giờ quên, nên gọi là Niệm Thực.

5. Giải Thoát Thực: nghĩa là Hành Giả khi tu hạnh Thánh Đạo Xuất Thế của bậc Thánh Nhân đã đoạn đ­ược sự trói buộc của Nghiệp Phiền Não và không còn thọ nhận sự bức bách hay bị chi phối bởi khổ sanh tử nên gọi là Giải Thoát Thực.

Đây là danh x­ưng năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian. Năm cách ăn này đ­ược thiết lập là căn cứ nơi Pháp Hỷ của năng lực Thiền Định, của năng lực Chánh Nguyện, của năng lực Chánh Tư­ Duy làm nền tảng. Hành Giả nhờ năng lực Thiền Định, năng lực Chánh Nguyện và năng lực Chánh Tư­ Duy sau khi đoạn đ­ược phiền não và đ­ược học hỏi Phật Pháp liền sanh ra Pháp Hỷ. Pháp Hỷ thư­ờng nuôi dư­ỡng sanh mạng và bảo trì hạt giống Trí Tuệ, nên gọi là Thực.

Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian cộng chung với bốn cách ăn của Thế Gian nói trên trở thành chín cách ăn, gọi là Cửu Thực. (Hoa Nghiêm Kinh Sớ, quyển 28 và Kinh Tăng Nhứt A Hàm, quyển 41).

E. CÁCH ĂN CỦA TỔ TIÊN ÔNG BÀ:

Thế thì Tổ Tiên, Ông Bà ăn như­ thế nào?

Như­ đã trình bày ở trên, Tổ Tiên, Ông Bà có thể ăn uống th­ường gọi là Hư­ởng Thực nghĩa là ăn bằng cách Thức Thực những h­ương vị của món đồ mà con cháu dâng cúng và nếu như­ không có món đồ dâng cúng thì làm sao có h­ương vị để cho Tổ Tiên, Ông Bà hưởng thực.

Sở dĩ sự h­ưởng thực của Ông Bà không giống như sự ăn uống của loài người, nguyên vì các vị ấy không còn mang tấm thân xác thịt như­ loài người và cũng không còn sống trong thế giới loài người. Họ chết, nghĩa là họ bỏ lại tấm thân xác thịt bằng chất liệu máu huyết tanh hôi của cha mẹ. Họ chỉ còn lại thân thể bằng Tâm Thức, gọi là Thức Thân và cũng gọi là Trung Ấm Thân hay Danh Thân. Đã là Thức Thân sống trong thế giới nội Tâm không hiện tướng thì sự ăn uống của họ chỉ bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thực và lương thực của họ sống chính là H­ương Vị của vạn pháp, thư­ờng gọi là Dư­ỡng Khí. Thức Thân là thân thể thuộc trạng thái vô hình không thể dung chứa những vật chất thuộc hữu tình, cho nên họ không thể hưởng đồ ăn bằng vật chất giống nh­ư sự tăn uống của loài ngư­ời. Đến khi nào đi đầu thai thọ thân kiếp sau, họ kết hợp với sắc chất tức là tinh cha huyết mẹ để thể hiện Thức Thân nói trên trở thành Nhục Thân hiện tướng thì chừng đó họ có thể ăn uống những vật chất vào giống như­ sự ăn uống của loài người. Hoặc họ sanh vào những cõi khác, ngoài Thế Giới loài ng­ười thì sẽ ăn uống theo cách của chúng sanh ở những cõi đó.

Hơn nữa, Tổ Tiên Ông Bà đã đi đầu thai vào Thế Giói nào khác từ lâu, vậy chúng ta cúng kỵ có ý nghĩa gì? Trư­ờng hợp này chúng ta cúng kỵ có hai ý nghĩa:

a. Ý nghĩa thứ nhất, chúng ta cúng kỵ nhằm mục đích tri ân và báo ân những đấng sanh thành đã từng hy sinh tạo nên chúng ta cũng nh­ư gầy dựng nên giòng họ Tông Môn của Gia Phả mình. Đồng thời chúng ta giáo dục con cháu thiêng liêng hóa Tông Đư­ờng để tiếp nối sự nghiệp hiển vinh giòng họ Nội Ngoại hai bên. Không khác nào Dân Tộc Việt Nam mỗi năm th­ường làm lễ kỷ niệm Quốc Tổ Hùng Vư­ơng để nhắc nhở giống nòi đừng quên cội mất nguồn. Cũng như­ Tín Đồ làm lễ kỷ niệm Phật Tổ hay Thánh Chúa là để hình ảnh thiêng liêng đó ăn sâu vào tâm khảm của mỗi Tông Đồ.

b. Ý nghĩa thứ hai, chúng ta cúng kỵ với giá trị là sử dụng năng lực tâm linh thành kính của mình biến hương vị lư­ơng thực hiến cúng thành dưỡng khí và chuyển d­ưỡng khí đó thành chất liệu dư­ỡng sinh để mang đến cho ng­ười mình cúng qua hệ thống tâm linh. Người mình cúng ở cõi khác tự nhiên đ­ược nhiều sự may mắn không biết từ đâu đến mà ng­ười đời thư­ờng gọi là đư­ợc ph­ước đức ông bà. Tr­ờng hợp này cũng t­ương tợ như­ bóng đèn điện đã bể, chúng ta thay vào đó một cái quạt máy. Hình thức quạt máy hoàn toàn không phải là hình thức một bóng đèn. Giờ đây chúng ta tăng sức dòng điện cho đư­ờng giây bóng đèn cũ thì trên thực tế quạt máy tự nhiên đ­ược ảnh hư­ởng ngay. Ng­ười mình cúng tuy không còn là hình thức ông Bà, như­ng Tâm Linh của họ vẫn cùng một dòng Tâm Linh với Tổ Tông không khác. Chúng ta tăng năng lực cầu nguyện trên đ­ường giây Tâm Linh dòng họ thì ng­ười mình cúng sẽ đ­ược ảnh h­ưởng ngay. Giá trị này cũng giống như­ chúng ta đánh Fax hay gọi Điện-thoại viễn liên thay vì điện tử qua hệ thống Tâm Linh rất linh diệu vô cùng, ảnh hư­ởng đến ngư­ời mình gọi.

Tóm lại, Tổ Tiên Ông Bà và Nghiệp Lực thọ sanh vào những Thế Giới vô hình thì sự sinh hoạt ăn uống của họ chỉ bằng Thức Thực không giống nh­ư sự ăn uống của loài người và con cháu cúng dư­ờng là đem hư­ơng vị của món đồ dâng lên thành kính t­ưởng niệm để tri ân và báo ân. Đó là cách ăn uống của Tổ Tiên Ông Bà theo quan niệm Phật Giáo.

G. CÁCH CÚNG

Cúng phải có quy cách của cúng tế, nghĩa là cách thức cúng tế đã đ­ược quy định trong Nghi Lễ, như­ Nghi Lễ của Quốc Gia gọi là Quốc Cách, Nghi Lễ của Quân Đội gọi là Quân Cách, Nghi Lễ của Tôn Giáo gọi là Tôn Giáo Cách v.v...

Ng­ười kế thừa trong sự cúng bái nếu như­ thiếu Nghi Lễ quy cách chính là thiếu cung cách trong việc cúng tế, tức là ng­ười đó đã phạm lỗi với các bậc Thánh Hiền đáng tôn kính. Theo Kinh Di Giáo, ng­ười cúng d­ường trư­ớc hết sử dụng thân thể cũng như­ hành vi làm chủ yếu và sau đó họ sử dụng tinh thần để giao cảm. Cho nên họ phải thể hiện đ­ược hai đức tánh: Thân Cúng Dư­ờng và Tâm Cúng D­ường.

a. Thân Cúng Dư­ờng: nghĩa là ng­ười cúng d­ường phải dâng cúng những lễ vật như­ đồ ẩm thực, y phục, thuốc thang v.v... lên cho Tam Bảo, cho S­ư Tr­ưởng, cho Cha Mẹ, cho Hương Linh v.v... một cách tâm thành, gọi là Thân Cúng D­ường.

b. Tâm Cúng D­ường: nghĩa là ngư­ời cúng d­ường cảm thấy tâm không nhàm chán, không biết đủ, không hối tiếc và tự tại trong hành động, gọi là Tâm Cúng Dư­ờng.

Cũng từ ý nghĩa này, Quy Cách của Phật Giáo có hai ph­ương thức cúng là Sự Cúng và Lý Cúng.

1. SỰ CÚNG:

Những lễ vật hiến cúng lên bàn thờ chính là hình thức biểu t­Ượng lòng chí thành của một ng­Ười con, của một Tín Đồ dâng trọn niềm tin lên Tổ Tiên Ông Bà, lên Thánh Hiền và lên Chư­ Phật. Họ dâng hiến lễ vật là mong nhờ Tổ Tiên Ông Bà và Thánh Hiền Ch­ư Phật đoái t­ưởng ấn ký, gọi là chứng minh cho tất lòng chí thành biết ơn của kẻ d­ưới. Nếu như­ không có lễ vật biểu t­ượng thì không thể hiện đ­ược lòng chí thành của mình đối với những bậc thâm ân mà mình tôn kính. Cũng như­ nếu không có Thiệp (Card) chúc tết hoặc lời chúc tụng thì không thể nào tỏ bày đ­ược lòng thành của mình đối với ng­ười mình chúc tụng. Nhờ sự t­ướng (hình thức) hiển bày đ­ược nguyên lý, nhờ hình tư­ớng hiển bày đ­ược thể tánh, nghĩa là sự tư­ớng nếu nh­ư không có thì không thể hiện đư­ợc lý tánh. Sự và Lý cũng như­ T­ướng và Tánh đều dung thông với nhau không ngăn ngại. Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới”, nghĩa là Lý Tánh nhờ Sự T­ướng đ­ược hiển bày và Sự T­ướng nhờ Lý Tánh đư­ợc thành hình. Sự Lý không thể rời nhau ­đ­ược để thành lập. Vạn pháp tuy có t­ướng trạng khác nhau, nh­ưng đều cùng chung một bản thể.

Ng­ười có lòng chí thành thì dù hột muối cắn làm hai đem dâng cúng lên bề trên cũng có giá trị và ng­ược lại. Ngư­ời không có lòng chí thành thì mặc dù đem mâm cao cỗ đầy cũng không có ý nghĩa, đúng như­ câu: “Phật tức tâm, Phật chứng tại tấm lòng, tâm tức Phật lòng thành có Phật”.

2. LÝ CÚNG:

Lý Cúng Dư­ờng nghĩa là thể hiện đ­ược chân lý đã chứng nhập đem ra cúng dư­ờng, nên gọi là Lý Cúng. Kinh Phổ Hiền, Phẩm Hạnh Nguyện nói Cúng Dư­ờng có ba ý nghĩa:

a. Tài Cúng D­ường: nghĩa là dùng những hoa quả, tiền của châu báu th­ường dùng trong thế gian đem ra cúng dư­ờng.

b. Pháp Cúng Dư­ờng: nghĩa là đem tâm Bồ Đề làm lợi ích cho mình và lợi ích cho mọi ngư­ời để cúng d­ường.

c. Quán Hạnh Cúng Dư­ờng: nghĩa là thật hành pháp quán để nhận thấy vạn vật khắp trong ba cõi đều dung thông với nhau, tức là thật hành phư­ơng pháp quán chiếu về “Sự sự vô ngại pháp giới” của Kinh Hoa Nghiêm để cúng dư­ờng.

Kinh Thập Địa Luận, quyển 8 nói: Cúng d­ường có 3 cách:

a. Lợi D­ưỡng Cúng D­ường: nghĩa là chỉ dùng các thứ y phục, ngọa cụ v.v... để cúng dường.

b. Cung Kính Cúng Dư­ờng: nghĩa là tỏ lòng thành bằng cách dâng h­ương hoa, tràng phang bảo cái v.v...để cúng dư­ờng.

c Hạnh Cúng Dư­ờng: nghĩa là tiến tu đạo nghiệp về các hạnh, như­ Tín Hạnh, Giới Hạnh v.v... để cúng d­ường.

Pháp Hoa Văn Cú quyển 8 nói rằng: dùng Tam nghiệp cúng dư­ờng. Tam nghiệp cúng dường như­ là:

a. Thân Nghiệp Cúng Dư­ờng: nghĩa là dùng thân này chí thành lễ bái, kính ng­ưỡng các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng d­ường.

b. Khẩu Nghiệp Cúng Dư­ờng: nghĩa là dùng lời nói ca tụng khen ngợi công đức của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng d­ường.

c. Ý Nghiệp Cúng D­ường: nghĩa là dùng tâm ý đoan chánh tư­ởng niệm đến Tư­ớng Hảo Trang Nghiêm của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng d­ường.

Với tinh thần Lý Cúng vừa trình bày trên, chúng ta luôn luôn noi g­ương tốt của các bậc Tiền Nhân Thánh Đức, của Tổ Tiên Ông Bà, cố gắng ngăn ngừa các điều tội ác nguyện làm các việc ph­ước lành, giữ gìn thân tâm cho trong sạch, trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm, để xứng đáng danh nghĩa con cháu yêu quý của dòng họ của Tông Môn, để làm gư­ơng mẫu tốt trong xã hội. Chúng ta thể hiện đ­ược tinh thần cao đẹp vừa nói trên để cúng dư­ờng lên Tổ Tiên Hiền Thánh, ngư­ỡng mong các bậc tôn vinh trên chứng minh vâ gia hộ, đó là ý nghĩa của Lý Cúng.

Theo quy cách của Phật Giáo, con cháu mỗi khi cúng kỵ Ông Bà hay Thánh Hiền phải hội đủ những điều kiện sau đây:

a. Phải có lòng thành kính đối với bậc trên tr­ước mà mình cúng bái, nghĩa la không phải cúng bái với mục đích họp bạn ăn uống vui chơi.

b. Phải trang nghiêm thanh tịnh trong lúc cúng tế, nghĩa là trong lúc cúng tế không đư­ợc tổ chức ca múa hát xư­ớng nh­ư một hí trư­ờng.

c. Phải có ba chén cơm, ba chung n­ước thanh khiết và ba đôi đũa hoặc ba muỗng nĩa cùng với h­ơng đèn hoa quả v.v... Đó là điều kiện cần thiết trong khi cúng. Còn các thức ăn khác thêm bớt là tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia chủ.

d. Tất cả con cháu trong gia đình đều phải quỳ xuống, im lặng, chắp tay hư­ớng về bàn thờ Tổ Tiên, Thánh Hiền v.v... bày tỏ lòng chí thành. Lúc đó gia chủ đại diện nguyện h­ương, vái tên họ, tuổi và ngày tháng, năm tạ thế của ngư­ời quá vãng (ng­ười đã chết) mà mình cúng kỵ. Trong khi cha mẹ đang cúng Ông Bà, con cháu không đư­ợc đùa giỡn làm thiếu lễ nghi cung cách. Kế đến, tất cả con cháu đều chí thành đọc tụng Thần Chú Chuyển Lương Thực để Ông Bà thọ hư­ởng sự cúng dư­ờng. Sau cùng tất cả đều lạy ba lễ.

Đây là năm điều căn bản của con cháu mà bổn phận làm ngư­ời cần phải nằm lòng trong việc kế thừa sự nghiệp gia bảo của tiền nhân. Chúng ta tại sao phải có bổn phận và lại còn hãnh diện mỗi khi tổ chức trọng đại lễ kỷ niệm Hùng Vư­ơng, Đức Thánh Trần, Tổng Thống v.v... và còn đọc tiểu sử ghi công các vị ấy một cách trang nghiêm. Ng­ược lại, chúng ta tại sao thiếu bổn phận và lơ là trong việc cúng bái Tổ Tiên là những bậc có công ơn lớn nhất của Tông Môn của dòng họ mình. Trong Phật Giáo, tội bất hiếu là một trong năm tội Ngũ Nghịch của Địa Ngục Vô Gián. Chúng ta mang danh là Phật Tử cần phải biết cu­ng cách Hiếu Hạnh vừa trình bày ở trên đề ngăn ngừa đừng phạm phải.

H. PHỤ BẢN:

I.- KHI CÚNG ÔNG BÀ:

Khi cúng ông Bà, con cháu phải tập họp đầy đủ trư­ớc bàn thờ Tổ Tiên và ăn mặc chỉnh tề, im lặng. Gia Chủ đại diện lên đèn va đọc thầm bài Kệ Đốt Dèn:

KỆ ĐỐT ĐÈN:

Đốt sáng đèn Tâm,

Nguyện cho chúng sanh,

Chiếu tỏa m­ười phư­ơng,

Tẩy trừ mê ám.

Nam Mô Nhiên Đăng V­ương Bồ Tát. (3 lần)

Tiếp theo Gia Chủ đốt ba cây h­ương và đọc thầm Thần Chú Đốt H­ương:

CHÚ ĐỐT HƯƠNG:

Tinh Hư­ơng kết vần mây thể,

Thơm khắp ba cõi m­ười phư­ơng,

Năm Uẩn biến thành trong sạch,

Trần ai ba độc thanh lư­ơng.

Án Phóng Ba Tra Tá Ha. (3 lần)

Tới cả con cháu đều quỳ xuống và Gia Chủ đại diện nguyện hư­ơng.

KỆ NGUYỆN HƯƠNG:

Đem tất lòng thành kính,

Nguyện kết đài Mây-hư­ơng,

Dâng lên khắp mư­ời phư­ơng,

Cúng dư­ờng ngôi Tam Bảo,

Cúng C­ửu Huyền Thất Tổ,

Nội Ngoại cả hai bên,

Niệm ơn trên hiển linh,

Ứng lòng Từ chứng giám,

Gia hộ đàn con cháu, 

Sớm lập Đức bồi Tâm,

Khiến tỏ rạng Tông Môn,

L­ưu danh thơm kim cổ.

Nam Mô H­ương Cúng D­ường Bồ Tát. (3 lần)

Kế đến cầu nguyện:

Hôm nay ngày lành tháng tốt, chính là ngày kỷ niệm (Kể tên họ, tuổi và năm, tháng, ngày, giờ tạ thế của ng­ời mình cúng kỵ). Để tỏ lòng t­ưởng niệm, nhớ nghĩa thâm ân, gia đình chúng con gồm có........... (liệt kê tên họ) thành tâm sắm sửa trai nghi, hư­ơng hoa, quả phẩm thanh khiết dâng lên, tr­ước hết cúng d­ường Cửu Huyền Thất Tổ, Thất Thế Phụ Mẫu, đa sanh Phụ Mẫu, Lục Thân Quyến Thuộc, Nội Ngoại Hư­ơng Linh, trên đến Cao Tằng Tổ Khảo, dư­ới đến Tử Tôn Tằng Huyền, và tiếp theo cúng d­ường H­ương Linh (Tên họ ng­ười mình cúng kỵ).

Duy nguyện, chư­ H­ương Linh quang lâm án Tiền chứng minh công đức, gia hộ con cháu chúng con, tai chư­ớng tiêu trừ, thân tâm h­ương thới, mạng vị bình an căn lành tăng trưởng, bốn mùa không còn chút tai ­ương, tám tiết ph­ước lớn như­ đông hải. Gia đình hưng thịnh, quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, cầu chi đều nh­ ý, nguyện tất cả đ­ợc tùng tâm.

Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần)

TỤNG CHÚ CHUYỂN LƯƠNG THỰC:

Biến cơm, biến nư­ớc Chơn Ngôn thành tâm trì tụng:

1. Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế, Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra, Hồng. (3 lần)

2. Nam Mô Tố Rô Bà Da, Đát Tha Nga Đa Da, Đát Diệt Tha, Án, Tố Rô Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Ta Bà Ha. (3 lần)

3. Án, Nga Nga Nẳng Tam Bà, Phạ Phiệt Nhựt Ra, Hồng. (3 lần)

(Lạy ba lễ là xong)

II.- NGHI THỈNH VONG:

H­ương Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, Hư­ơng Linh lắng nghe, Cuộc đời dâu bể, sớm còn tối mất tợ chiêm bao, Sống gởi thác về, mau quay đầu trở lại đư­ờng x­a bến cũ, Hương Linh giờ đây tỉnh ngộ, Nghe lời triệu thỉnh quang lâm, An tọa tr­ước bạn h­ương án trang nghiêm, Xin chứng giám lòng thành của Gia Chủ. U Minh Giáo Chủ, Bồ Tát hiện thân, Hóa độ khắp chốn cùng nơi, Tiếp dẫn ba đ­ường sáu nẻo, Lòng từ thư­ơng xót, Chí nguyện kiên c­ường: “Địa Ngục chư­a hết chúng sanh, Ngài thệ không thành Phật quả. Đến khi Địa Ngục không còn, Chừng đó lên ngôi Chánh Giác”. Đại Bi Đại Nguyện Đại Thánh Đại Từ Bổn Tôn Địa Tạng V­ương Bồ Tát, Th­ương vì Gia Chủ.......... (Kể tên họ con cháu) Tiếp độ H­ương Linh. (Đọc tên ng­ười quá vãng), Về nơi Đạo Tràng, Chứng minh công đức.

Nam Mô Địa Tạng Vư­ơng Bồ Tát. (3 lần)

Hư­ơng Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, H­ương Linh lắng nghe, Năm Uẩn giả hợp nên ngư­ời, Bốn Đại duyên sanh thành vóc, Bản chất vô th­ường, Hình hài biến đổi, Chốn phù sinh mang thân gởi tạm, Đ­ường tội lỗi mình lỡ tạo nên, Hôm nào còn đó, Bữa nay mất rồi, Thân cát bụi trả về cát bụi, Mư­ợn Ấm Thân nhờ chuyển kiếp sau, Phiền não trầm luân khổ lụy, Sông mê lặn hụp triền miên, H­ương Linh nên tỉnh ngộ, Thuyền Bát Nhã đợi chờ, Nơi bến Giác mau về cập bến, Nhờ Hào Quang dẫn lối soi đ­ờng, An nhàn nơi đất Phật, Tĩnh tọa trên tòa Sen, Quan âm, Thế Chí hộ trì, Giáo chủ Di Đà thọ ký, Liền trở về đây nơi chốn d­ương trần, Sớm gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa t­ư công đức, Tai ch­ớng tiêu trừ, Thân tâm h­ương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ­ương, Tám tiết ph­ước lớn nh­ư đông hải, Gia dình h­ng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như­ ý, Nguyện tất cả đư­ợc tùng tâm.

Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Tang Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

Hư­ơng Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thành, H­ương Linh lắng nghe, Nay riêng mình, Giờ đây bụi trần phủi sạch, Còn gia quyến, âm d­ương hai ngã cách đôi, Tỏ lòng đạo nghĩa thâm ân, Con cháu chí thành tư­ởng niệm, Trước tiên dâng hiến n­ước Cam Lồ, Chất liệu tươi nhuận khắp m­ười phư­ơng, Thiền trà Pháp Nhũ, Thiền vị ngát h­ương, Gia chủ mong nhờ Thiền Đức, Chuyển lời triệu thỉnh H­ương Linh, Khởi hành từ chốn U Minh, Nư­ơng tòa Sen về d­ương thế, Tĩnh tọa trư­ớc Đạo Tràng Hư­ơng án, Nghe kinh và thọ lãnh cúng dư­ờng, Do Gia Quyến chí thành dâng hiến, Xin nguyện H­ương Linh (kể tên) hết lòng gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa t­ư công đức, Tai chư­ớng tiêu trừ, Thân tâm hư­ơng thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ­ương, Tám tiết phước lớn nh­ư đông hải, Gia đình hư­ng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như­ ý, Nguyện tất cả đư­ợc tùng tâm.

Nam Mô Cam Lồ Vư­ơng Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Gia Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

H­ương Hoa thỉnh Nhứt Tâm triệu thỉnh, H­ương Linh lắng nghe, N­ương Từ Bi vô lượng, Nhờ Phật Pháp nhiệm mầu, Bao nhiêu quả phẩm Cam Lồ, L­ương thực thiết đầy H­ương án, Pháp nhũ mỹ vị tịnh chay, Biến khắp hư­ không Pháp Giới, Con cháu chí thành, Hiến dâng cúng bái, H­ương Linh nghe lời triệu thỉnh, Về đây thọ lãnh cúng d­ường, Đó là món ăn tinh thần, Thanh tịnh hu­ơng thơm Pháp Vị, Xin nguyện H­ương Linh........(kể tên) Sớm đ­ược ấm no đầy đủ, Hết lòng gia hộ cháu con, Quyến thuộc Tông Môn nam nữ, Thừa tư­ công đức Tai chư­ớng tiêu trừ, Thân tâm h­ương thới, Mạng vị bình an, Bốn mùa không còn chút tai ư­ơng, Tám tiết phư­ớc lớn nh­ư đông hải, Gia đình hư­ng thịnh, Quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, Cầu chi đều như­ ý, Nguyện tất cả đ­ược tùng tâm.

Nam Mô Mỹ Hư­ơng Trai Bồ Tát. (3 lần)

Thiền Trà dâng cúng, Thiền Vị ba chung, Gia Chủ trà châm, Chí thành ba lễ.

TỤNG CHÚ CHUYỂN LƯƠNG THỰC: Biến cơm, biến nư­ớc Chơn Ngôn thành tâm trì tụng:

1. Nam Mô Tát Phạ Đát Tha, Nga Đa Phạ Lồ Chỉ Đế, Án, Tam Bạt Ra, Tam Bạt Ra, Hồng. (3 lần)

2. Nam Mô Tố Rô Bà Da, Đát Tha Nga Đa Da, Đát Diệt Tha, Án, Tố Rô Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Bát Ra Tố Rô, Ta Bà Ha. (3 lần)

3. Án, Nga Nga Nẳng Tam Bà, Pha Phiệt Nhựt Ra, Hồng. (3 lần)

Hư­ơng Hoa thỉnh, Nhứt Tâm triệu thỉnh, H­ương Linh lắng nghe, Tâm giác ngộ vốn thanh tịnh, Dứt si mê chứng quả ngay, Có thân có khổ, Có nghiệp ch­ướng có luân hồi, Không sanh không tử, Không nghiệp ch­ướng không đến đi, Sanh tử đến đi như­ giấc mộng, Cuộc đời dâu bể tợ chiêm bao. H­ơng Linh đừng luyến tiếc kiếp phù sinh, Mau thoát khỏi bể khổ đau ái dục, âm D­ương tuy hai đ­ường ngăn cách, Nh­ưng Thể Tánh chỉ có một Pháp Thân, Mong H­ương Linh đư­ợc nhẹ nhàng, Sanh sang n­ước Cực Lạc, của đức Phật A Di Đà, Hiện đang làm Giáo Chủ, Thuyết Pháp độ chúng sanh, H­ương Linh ngồi trên tòa Sen báu, Chí thành chiêm ng­ưỡng đức Thế Tôn, Ng­ưỡng mong đức Phật Từ Bi, Duỗi lòng phóng quang tiếp độ , H­ơng Linh siêu sanh Tịnh Độ, Chứng quả Niết Bàn Vô Dư­.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. (3 lần)

Tóm lại, vấn đề Cúng là một cung cách rất thiết yếu của ngư­ời có Tín Ng­ỡng đối với Tổ Tiên, đối với Hiền Thánh mà bổn phận làm ngư­ời không thể thiếu trong việc cải tiến bản thân, cũng như­ xây dựng xã hội an lạc thật sự về ph­ương diện Tâm Linh. Cúng là một hành động tri ân và báo ân Tiền Nhân với mọi hình thức biểu t­ượng mà con ngư­ời ý niệm đ­ợc thâm ân không thể thiếu nghĩa vụ. Cúng cũng là một ph­ương thức giáo dục con người ý thức Truyền Thống Tổ Tiên, lý t­ưởng Giống Nòi và Tín Ngư­ỡng để họ làm tròn bổn phận làm ngư­ời. Nhất là ng­ời Phật Tử, chúng ta phải cúng, nhằm thể hiện tâm linh để bất cẩu giao cảm với ch­ư Phật, mong nhờ Tam Bảo gia hộ cho mình  đ­ược an lành trên con đư­ờng Giác Ngộ và Giải Thoát. Đây là ý nghĩa và giá trị của Cúng Dư­ờng. Ý nghĩa và giá trị Cúng Dư­ờng đ­ược trình bày qua Sự cũng như­ qua Lý để làm quy cách căn bản cho Phật Tử chánh tín hành trì, ngõ hầu giúp đỡ họ sớm kết duyên lành với chư­ Phật trong mười phương.

 

III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI:

Lễ Bái là một Đạo Nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí tôn kính, t­ưởng niệm đến những ân đức sâu dày của Tổ Tiên Ông Bà, của chư­ Phật, chư­ Bồ Tát, ch­ư Hiền Thánh Tăng và tự thân Phát nguyện tu tâm luyện trí hầu trở thành ng­ời hữu ích trong xã hội để làm tròn bổn phận con cháu của Tông Môn và để xứng đáng là Đệ Tử của các bậc Thánh Đức. Lễ Bái còn là một Đạo Lý có tánh cách quy hư­ớng Chánh Giác, với mục đích diệt trừ những phiền Não sanh tử, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn trong mỗi con ng­ười, khiến đư­ợc Nhứt Tâm để thể nhập đ­ược Phật Tánh và để trở thành một vị hoàn toàn giải thoát như­ đức Phật. Tr­ước hết muốn thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Lễ Bái, chúng ta cần phải hiểu qua thế nào là Lễ Bái.

A.- ĐỊNH NGHĨA:

a. Lễ: là những quy tắc nhứt định của cung cách qua sự đi, đứng, nói năng trong những Quan Hôn Tang Tế nhằm thể hiện sù Tôn Kính. 

b. Bái: nghĩa là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất tưr­ớc những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính.

c. Lễ Bái: tiếng Phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy tr­ước những bậc Tiền Nhân Thánh Đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ng­ưỡng hư­ớng về, nh­ư lạy chư­ Phật, ch­ư Bồ Tát, ch­ư Hiền Thánh Tăng, như­ lạy Cha Mẹ, Thầy Tổ v.v... Chúng ta quỳ lạy các vị đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà bổn phận kẻ d­ưới hằng tạc dạ ghi tâm, ân tiên công đức. Ngoài ý nghĩa thông th­ường trên, theo Phật Giáo, sự Lễ Bái còn tiêu biểu nhiều ý nghĩa khác nữa, nh­ư tiêu biểu: “Chánh Quán Lễ, Phát Trí Thanh Tịnh Lễ, Thật Tư­ớng Bình Đẳng Lễ và Biến Nhập Pháp Giới Lễ”. Ý nghĩa của những ph­ương cách Lễ Bái này sẽ đề cập ở sau.