- Tôn giả A Để Sa
(982-1054)
- Thích Hằng Đạt
Chương II. Sự
nghiệp hoằng pháp lợi sanh quảng đại
Từ Kim Châu trở về Ấn Độ, Tôn
Giả trú tại chùa Đại Bồ Đề mà chuyên tu hành. Trong chùa có thánh tượng
Bồ Tát Quán Tự Tại. Bấy giờ, có hai bà lão thường cúng dường thánh
tượng Bồ Tát Quán Tự Tại rất nhiều phẩm vật. Đêm nọ, một bà lão
mộng thấy Bồ Tát Quán Tự Tại bảo:
- Chớ cúng dường cho Ta. Nơi đây
có tỳ kheo Kiết Tường Nhiên Đăng Trí; bà nên cúng dường cho vị đó,
thì phước đức rất nhiều.
Sáng hôm sau, bà lão đến chùa của
phái Căn Bổn Bộ hỏi thăm về Tôn Giả, nhưng không ai biết đến. Về
sau, một vị trưởng lão của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ bảo:
- Hôm qua có một vị khách tăng. Hiện
đang trú tại khách đường. Bà có thể hỏi thăm vị đó.
Bà lão đến hỏi thăm và biết rằng
vị đó chính là Tôn Giả. Bà lão bèn cầu thỉnh Tôn Giả thọ sự cúng dường.
Tôn Giả hứa khả cho, và sang trú tại chùa Kim Cang Tọa.
Lúc Tôn Giả đến cúng dường các
phẩm vật và trú tại chùa Kim Cang Tọa, có một cặp vợ chồng sống gần
vùng đó. Vào đêm nọ, ông chồng được chư Thiên báo mộng rằng tỳ
kheo Nhiên Đăng Thắng Kiết Tường (1) đang trú tại chùa Kim Cang Tòa, vậy
hãy nên đến đó đảnh lễ cúng dường. Hôm sau, ông chồng y theo lời
báo mộng của chư Thiên mà đến chùa Kim Cang Tòa, và thấy Tôn Giả đang
làm lễ tại đó. Thế nên, ông chồng bèn lễ bái cúng dường Tôn Giả. Dẫu
tiếp thọ sự cúng dường, nhưng sau này Tôn Giả lại cảm thấy chẳng
chân chánh. Tôn Giả suy nghĩ: "Nay đã học hết mọi pháp của chư sư
trưởng, và thấy rất nhiều Bổn Tôn, lại đạt được nhiều loại thành
tựu, tự thân cũng thấy rất nhiều mật chú đàn luân (tức là thấy Mạn
Đà La Ni, cung điện của Bổn Tôn và chư quyến thuộc viên mãn), Ta nên
chuyên nhất tâm tu trì, để sớm chứng chánh giác."
Tôn Giả vừa khởi niệm này, thì
ngài La Hầu La Cấp Đa ở núi Hắc Sơn, dùng lực thần thông mà đến, bảo
Tôn Giả:
- Tuy thấy Bổn Tôn Đàn Luân, hiển
hiện thần thông, đắc tam ma địa (thiền định), nhưng thật ra hoàn toàn
chưa đạt đến đâu. Thay vì lãng phí thời giờ trong núi rừng tịch tĩnh,
hãy nên tu tập tâm từ bi, và phát tâm Bồ Đề (2). Bồ Tát Quán Âm ngàn
tay vốn là vị Bổn Tôn của tâm từ bi. Phải nương y theo vị Bổn Tôn đó
cho đến đời vị lai, để hộ trì chánh pháp, làm lợi ích loài hữu
tình.
Xưa kia, dưới tòa của đại sư
Kim Châu, Tôn Giả đã đắc được sự quyết đoán, nay lại càng thêm được
sự quyết đoán. Lúc Tôn Giả đi nhiễu Kim Cang Tòa của đức Như Lai, một
thánh tượng nọ bèn đứng dậy, hỏi một thánh tượng khác:
- Muốn mau chứng thành đẳng chánh
giác, phải nên học pháp nào ?
Thánh tượng khác đáp:
- Muốn mau thành chánh giác, phải
nên học pháp phát tâm Bồ Đề.
- Phải tu tâm Bồ Đề như thế nào
?
- Phải y theo môn thiện phương tiện
của Hiển giáo mà tu tâm Bồ Đề.
Tôn Giả đứng nơi đó, nghe xong
bèn hiểu rõ cả, và tự bảo: "Hai thánh tượng này thật là do pháp
thân ứng hóa. Vì muốn khiến cho tâm Ta đạt sự quyết đoán, nên hiện
thân giả vấn đáp, mà kẻ khác chẳng hề biết đến."
Ngày khác, lúc đang đi nhiễu quanh
Kim Cang Tòa, Tôn Giả thấy trên hư không ở phía nam của Kim Cang Tòa có
hai Thiên nữ, tướng hảo trang nghiêm thù thắng hơn người thế tục. Một
Thiên nữ nọ hỏi:
- Muốn sớm chứng đẳng chánh
giác, phải nên học pháp gì ?
Thiên nữ khác đáp:
- Phải nên học theo tâm Bồ Đề.
- Tu như thế nào ?
- Phải y phương tiện thiện diệu
của chú quỹ Bồ Đề Tâm.
Tôn Giả nghe xong bèn lãnh hội hết.
Tôn Giả tự bảo rằng đây là Độ Mẫu và Nộ Tướng Mẫu.
Lúc đi nhiễu quanh nơi Hàng Ma Tốt
Đô Bỉ, Tôn Giả cũng y theo hai bà lão (3) mà nghe về pháp Bồ Đề Tâm.
Tôn Giả lại thấy trước điện của Độ Mẫu có hai phụ nữ trẻ và
già; họ cũng vấn đáp như thế. Lúc Tôn Giả đi nhiễu quanh chùa Kim Cang
Tọa, thánh tượng Phật chợt hạ nghiêng mũ xuống. Lúc Tôn Giả đi nhiễu
quanh Kim Cang Tu Di do Bồ Tát Long Mãnh tạo, thì tượng Phật Thích Ca Mâu Ni
bằng ngà voi cũng phó chúc cho pháp phát Bồ Đề Tâm:
- Này vị Tỳ Kheo ! Nếu Ông muốn
mau chóng chứng đắc đạo giác ngộ thì phải tự tu tập tâm từ bi và
tâm Bồ Đề.
Tôn Giả thọ vô lượng lời giáo
huấn của chư Phật, chư Bồ Tát, chư sư trưởng, rồi suy nghĩ: "Muốn
viên mãn tất cả ý niệm của chư Phật chư Bồ Tát, tùy thuận tất cả
lời giáo huấn của chư sư trưởng, thành tựu biện tài lợi ích viên
mãn cho mình và người, trừ Bồ Đề Tâm, chẳng có pháp nào khác. Nay chỉ
nương theo Bổn Tôn Đại Bi, tu Bồ Đề Tâm."
Lần nọ, lúc Tôn Giả đang tu tâm
từ trước điện A Di Đà phía tây chùa Kim Cang Tọa, thì Bồ Tát Quán Tự
Tại hiện thân an ủi:
- Lành thay ! Này Thiện Sĩ ! Phải hành
những gì nên hành ! Tất cả Mật Tạng của ba đời chư Phật, nay Ông đều
đã tinh thông thấu suốt. Từ nơi này, về phía bắc (4) có quốc độ của
Ta. Thiên nữ Độ Mẫu cũng trú tại nơi đó, và đang làm lợi ích cho
loài hữu tình. Sự giáo hóa của Ông, đa phần cũng tại nơi đó. Vì vậy,
Ông hãy nên qua phương bắc !
Tôn Giả y định lực từ bi, đạt
được tam ma địa, thần thông quảng đại, thấy vô lượng chư Phật chư
Bồ Tát đang làm lợi ích cho vô biên hữu tình. Tôn Giả thường lập chánh
phá tà, nên danh truyền khắp chốn. Bấy giờ, tại nước Ma Kiệt Đà, tất
cả chùa chiền, vô lượng chúng xuất gia và tại gia, chư Du Già Sư, đại
thiện xảo, đều đảnh lễ tôn kính Tôn Giả như hạt châu Như Ý Ma Ni.
Vào thời ấy, bốn ngôi chùa nổi
tiếng nhất ở Ấn Độ là Na Lan Đà (Nalanda), Tỳ Trát Ma Thi La
(Vikramasila), Kim Cang Tọa (Vajrasana), Âu Đơn Đạt Phú Lê (Odantapuri). Giữa
bốn ngôi chùa này, chùa Tỳ Trát Ma Thi La là nổi tiếng nhất.
Chùa Tỳ Trát Ma Thi La (5) do vua Hộ
Pháp (Dharmapala) xây cất (6) để cúng dường cho chư đại đức của bốn
bộ phái; mỗi bộ phái có hai mươi bảy vị; cộng lại thành 108 vị. Lại
nữa, có mười hai viện dành cho khách tăng, những vị thường đến chiêm
bái thánh tích. Ngoài ra còn có các viện tu tập Thanh Minh, Nhân Minh; trong
những viện đó, có khoảng hai trăm vị tăng; các ngài đều là những bậc
tam tạng pháp sư, nhân tài ngũ minh.
Đến thời vua Trà Na Ca (955-983), sự
giảng học ở chùa Siêu Giới được xưng là rất tối thắng. Bấy giờ,
ngài Hiều Cự Đức thường được cung thỉnh làm tọa chủ giảng thuyết.
Nhất thời, hộ chùa có sáu vị đại sư, được xưng là "Sáu Hiền
Môn", như phía đông là ngài Bảo Tác Tịch (Santi-pa); phía tây là ngài
Trí Sanh Huệ (Prajnakaramati); phía nam là ngài Tự Tại Ngôn Ngữ Xưng
(Vagisvarakirti); phía bắc là ngài Na Lạc Ba (Naropa); trung tâm là ngài Bảo
Kim Cang (Ratnavajra) và Trí Kiết Tường Hữu (Jnanasri); kế đến là ngài
Giác Hiền; tất cả đều là những vị bác học tinh thông Ngũ Minh, chuyên
hoằng Mật Thừa, chú trọng nơi học thuyết Vô Thượng Du Già Thượng Lạc
Luân. Song, bảy bộ Nhân Minh của Hiển Giáo, năm bộ luận của Bồ Tát Di
Lặc, và Nhập Bồ Tát Hạnh của ngài Tịch Thiên cũng được hoằng bá. Bấy
giờ, học phong của Vô Thượng Du Già đạt tới tối cực, nên có xu thế
dung hợp Hiển-Mật. Đây là sự biến hóa lớn lao kỳ lạ vi diệu của Phật
giáo Đại Thừa. Từ đó, pháp thống của chùa Siêu Giới được duy trì
không gián đoạn. Đương thời, có năm mươi bảy vị đại thành tựu trứ
danh cũng đều cung kính đảnh lễ Tôn Giả.
Lúc trú tại chùa Kim Cang Tòa, thanh
danh của Tôn Giả lan truyền khắp Ngũ Thiên (Ấn Độ) vì luôn hàng phục
được các luận sư ngoại đạo ở vùng Ma Kiệt Đà.
Lúc Tôn Giả trú tại chùa Kim Cang
Tòa, vua nước Ma Kiệt Đà là Nayapala và vua ngoại đạo dòng Kalachuri ở
miền tây Ấn Độ, khởi sự gây hấn chiến tranh với nhau. Vào buổi đầu,
vua dòng Kalachuri tấn công nước Ma Kiệt Đà. Vì chẳng chiếm được thành
Ma Kiệt Đà, nên quân của vua dòng Kalachuri tàn phá chùa chiền, giết bốn
vị tăng và một cư sĩ, cùng cướp bóc đồ đạc của tăng chúng. Bấy giờ,
Tôn Giả chẳng khởi niệm quan tâm hay oán giận đến họ, mà chỉ điềm
tĩnh thiền quán về tâm từ bi, tâm Bồ Đề đến với chúng sanh. Sau này,
quân của vua Nayapala thắng lại và tàn sát quân của vua dòng Kalachuri. Lúc
ấy, Tôn Giả che dấu bảo vệ rồi tìm cách giúp vua dòng Kalachuri cùng
quân sĩ của ông chạy trở về lại cố quốc. Từ đó, vua dòng Kalachuri
tín phụng và trở thành đệ tử của Tôn Giả. Nhà vua cung thỉnh Tôn Giả
sang vương quốc của ông ta ở miền tây Ấn Độ. Trừ thực phẩm bị phá
hoại trong các cuộc chiến, tất cả đồ vật của tăng chúng ở trong
vùng chiến sự đều được trả lại hay được bồi thường. Chẳng quan
tâm đến sức khỏe và sự an nguy của tánh mạng, Tôn Giả thường đi qua
lại các con sông của hai vương quốc để điều đình việc đình chiến.
Cuối cùng, hai vương quốc đồng ký kết hiệp nghị đình chiến dưới sự
cố vấn của Tôn Giả.
Bấy giờ đại thí chủ của chùa
Tỳ Trát Ma Thi La là vua Đại Hộ (7), chí thành ân cần cung thỉnh Tôn Giả
sang ngôi chùa đó làm vị trụ trì và thọ sự cúng dường (8). Dưới sự
giáo thọ của Tôn Giả, rất nhiều tỳ kheo đến tu viện tu học. Do đó,
Tôn Giả lo xây cất thêm phòng ốc của tăng chúng, thiết lập chương trình
giảng dạy cho chư tăng. Khi ấy, trong chánh điện của chùa Tỳ Trát Ma Thi
La, nhà vua cho vẽ tượng Bồ Tát Long Mãnh ở bên phải, và vẽ tượng của
Tôn Giả ở bên trái, với ý nghĩa là Tôn Giả sánh bằng Bồ Tát Long
Mãnh. Hai bên vách tường của ngôi chánh điện, đều có những bức tranh
của các vị thiện xảo thông đạt Ngũ Minh, cùng các vị đại thành tựu.
Trên đó, đều có bức tượng của Tôn Giả, với ý nghĩa là Tôn Giả có
đầy đủ hai đức. Đương thời, Tôn Giả được cung thỉnh trụ trì tám
trăm ngôi đại tự viện ở Ấn Độ, bao gồm chùa Âu Đơn Đạt Phú Lê
(Odantapuri), và hoằng pháp lợi sanh vô cùng tận. Tất cả chư học giả đều
cung kính Tôn Giả làm bậc sư trưởng. Theo Phật giáo, vị tăng nào có một
trong bốn lực như Định Lực (Yoga-sakti), Tài Lực (Aisvarya-sakti), Sanh Lực
(Kula-sakti), Học Lực (Vidya-sakti) thì sẽ hộ trì chánh pháp. Song, Tôn Giả
có đủ hết bốn lực này, nên trở thành vị sư trưởng cao cả.
Trước khi Tôn Giả vào Tây Tạng,
ngài Na Lạc Ba (Naropa) đến viếng thăm chùa Siêu Giới. Tất cả chư tăng
trong chùa đều bước ra ngoài cung nghinh ngài Na Lạc Ba. Tôn Giả cũng bước
ra, cầm tay trái của ngài Na Lạc Ba, và dẫn vị này vào chánh điện. Bấy
giờ, giữa đại chúng, ngài Na Lạc Ba bảo Tôn Giả:
- Từ đây về sau, trách nhiệm của
tăng đoàn và Phật pháp sẽ do Ngài gánh vác.
Tôn Giả khiêm tốn đáp:
- Khi Ngài còn ở đây thì làm thế
nào con gánh vác trọng trách lớn như thế ! Việc này cũng giống như một
đóm lửa nhỏ cố chiếu sáng toàn thế giới, thay gì ánh mặt trời hay mặt
trăng.
- Chẳng phải thế ! Đây chính là
lúc mà Ngài phải nhận rõ khả năng chân thật của mình. Chỉ có Ngài mới
đủ tư cách đảm nhận trọng trách đó. Tôi đã già rồi, và chẳng bao
lâu sẽ rời cõi đời này. Vì vậy, Ngài phải chấp nhận trọng trách
này.
Sau khi nói xong, ngài Na Lạc Ba rời
chùa, rồi đi vào miền nam. Hai mươi ngày sau, ngài Na Lạc Ba nhập tịch.
Lúc đến Tây Tạng, Tôn Giả có mang theo xá lợi của ngài Na Lạc Ba.
Bàn về vương thống Tây Tạng, vị
vua đầu tiên hiệu là Ni Xích Tán Phổ (Nya-tri-Tsenpo, sanh vào khoảng năm
127 tr.TL); tương truyền vị này từ Ấn Độ sang Tây Tạng lánh nạn; vị
này thuộc dòng dõi vương gia đời thứ năm của vua Ba Tư Nặc (Prasenajit)
ở nước Kiều Tát La (Kosala), và được người Tây Tạng tôn xưng làm
vua).
Vào thế kỷ thứ tư, vua thứ 28 là
Lạp Thác Nhật Ninh Thán (Lha-Tho-Ri-Xlyen-Tsen, thường được xem là hóa
thân của Phật Dược Sư), bắt đầu xiển dương chánh pháp, sau khi bốn hộp
Pháp Bảo (9) từ trên hư không rơi xuống.
Vua thứ 33 là Tùng Tán Cam Phổ
(Srong-Tsen-Gampo (569-650), được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Âm), lấy
công chúa Văn Thành của Trung Quốc (vào năm 641), và công chúa Bạch Lợi
Ty Bố (Bhrikuti) của Ni Bạc Nhĩ (Nepal) làm vương phi. Nhà vua hộ trì chánh
pháp, thiết lập mười điều luật tôn giáo và mười sáu điều luật phổ
thông cho dân chúng. Nhà vua phái đại thần Đoan Mỹ Bồ Đề
(Thonmi-Sambhota) cùng mười sáu thanh niên thông minh sang Ấn Độ du học Phật
pháp và tiếng Phạn. Lúc trở về, đại thần Đoan Mỹ Bồ Đề soạn ra mẫu
tự Tây Tạng dựa vào mẫu tự chữ Phạn. Theo ông Kim Sơn Chánh Hảo (người
Nhật) trong quyển Đông Á Phật Giáo Sử (10) thì những nhà phiên dịch
kinh điển từ chữ Phạn sang chữ Tây Tạng, trừ đại thần Đoan Mỹ Tam
Bồ Đề ra, còn có học giả người Ấn Độ là Câu Tát La (Kusara), Bà La
Môn Tang Già La (Samkara), học giả Ni Bạc Nhĩ là Tức Lạp Mông Khải
(Silamanju), hòa thượng người Hán là Đại Thiên Thọ, hai người học trò
của ông Đoan Mỹ Tam Bồ Đề là Đạt Ma Cổ Tát (Dharmakosa) và Đạo Khâu
Ba Nhĩ (Rdo-rje dpal).
Vua thứ 37 là Xích Tùng Đức Thán
(Thi-Sron-Detsan, 755-797). Vị vua này thỉnh hơn một trăm vị đại thiện xảo
người Ấn Độ như ngài Tịch Hộ (Santa-rakshita), đại sư Liên Hoa Sanh
(Pama-Sambhava), phiên dịch kinh luận Hiển giáo và Mật giáo, độ chúng xuất
gia (11), kiến lập các đại tự viện như Tang Da (12), v.v... Tất cả bản
văn kinh tiếng Phạn, đa phần đều được tồn trữ tại chùa Tang Da. Lúc
đến Tây Tạng, Tôn Giả duyệt xem những tàng kinh tạng, bèn tán thán sự
hoằng pháp vĩ đại của các vị tiền bối; công nghiệp của các ngài thật
rất hy hữu. Đương thời, dưới sự chủ tọa của nhà vua, đại sư Liên
Hoa Sanh, Tịch Hộ, Vô Cấu Hữu đại diện Phật giáo, biện luận thắng
các đạo sĩ Bổng giáo. Vì vậy, nhà vua lại hết lòng hộ trì chánh pháp
và trục xuất các đạo sĩ Bổng giáo ra miền biên địa. Nhà vua cũng chủ
trì các buổi tranh luận về giáo nghĩa giữa chư tăng người Ấn Độ và
người Hán suốt cả ba năm. Cuối cùng, đại sư Liên Hoa Giới (13) tranh biện
thắng hòa thượng Ma Ha Diễn (14). Thế nên, nhà vua quyết định rằng Phật
giáo Tây Tạng chánh thức y theo giáo nghĩa truyền thống của Phật giáo
Ấn Độ, và đuổi chư tăng người Hán trở về bổn xứ.
Nhà vua truyền vương vị cho thái tử
là Mâu Ni Tán Phổ (Mu-ne-Tsen-Po). Vị vua này chỉ trị vì ngôi vua được một
năm và bảy tháng (797-798) rồi bị người mẹ sát hại bằng thuốc độc.
Người em của nhà vua là Xích Đức Thán Phổ (Thi-de-tsen-po, hay Tắc Na Lụy
(Se-na-le), 798-814) lên ngôi vua. Vị này có ba người con, tên là Tạng Mã,
Lãng Đạt Mã, Nhạ Bạt Cẩn. Nhạ Bạt Cẩn (Ral-ppa-cen-tsan-ma, hay Xích
Nhã Ba Kiên (Khri-ral-pa-can), 814-836) lên làm vua, cung kính thánh giáo và thừa
sự Tam Bảo lại càng tín thành hơn các triều vua khác. Nhà vua cung thỉnh
chư cao tăng Ấn Độ như Thắng Hữu, Thiên Chủ Giác, Giới Chủ Giác,
Giác Hữu, v.v... cùng với chư tăng Tây Tạng như Pháp Tánh Giới, Trí
Quân, Văn Thù Kiết Tường Khải, Bảo Chủ Giới, v.v... biên soạn quyển
Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập, để thống nhất việc đặt định ngôn ngữ
phiên dịch kinh điển từ Phạn văn sang Tạng văn. Nhà vua cũng cho xây
hàng ngàn ngôi chùa và ban sắc lịnh rằng bảy gia đình phải cúng dường
cho một vị tăng. Nhà vua thường trải búi tóc làm tòa ngồi cho chư tăng
giảng kinh thuyết pháp. Nhờ lòng nhiệt thành của nhà vua, đạo Phật được
truyền bá toàn cõi Tây Tạng. Song, chẳng may có một nghịch thần vốn
theo đạo Bổng (15) ám sát nhà vua vào năm 836, rồi đưa Lãng Đạt Mã lên
ngôi vua. Vua Lãng Đạt Mã (Lan-darma) hủy phá chùa chiền, đốt kinh sách,
giết hại chư tăng, khiến chánh pháp bị suy vi. Tuy nhiên, ba năm sau, vua Lãng
Đạt Mã bị ám sát chết. Vua Lãng Đạt Mã có hai hoàng tử là Quang Hộ
(16) và Mẫu Cố (17). Quang Hộ có con là Thắng Luân Thật. Thắng Luân Thật
cũng có hai người con là Thắng Kiết Tường Tích và An Lạc Nhật Y. Bấy
giờ vì có sự bất hòa trong triều đình, nên An Lạc Nhật Y chạy tới
vùng Nga Nhật (18), rồi được dân chúng tôn làm vua. Vua An Lạc Nhật Y có
ba người con là Trát Hỷ Duyệt, Bạt Cấp Duyệt, Đắc Tổ Duyệt. Nhà vua
cắt vùng Nga Nhật làm ba phần, rồi ban cho Trát Hỷ Duyệt vùng Bổ Nhượng,
Bạt Cấp Duyệt vùng Dạng Dong, Đắc Tổ Duyệt vùng Mang Mãnh. Trát Hỷ
Duyệt có hai người con là Trí Quang (19), Tùng Đắc. Trí Quang có hai người
con là Thiên Vương và Long Vương. Tùng Đắc có một người con là Lạp Đắc.
Lạp Đắc có ba người con là A Đắc, Tĩnh Quang, Lạp Tôn Bạt Bồ Đề
Quang. Đầu tiên, Trí Quang (Jnanaprabha, hay Ye-ses-'od) tiếp thọ ngôi vua.
Song, vua Trí Quang vì muốn hoằng dương chánh pháp, nên truyền ngôi lại
cho Lạp Tôn Bạt Bồ Đề Quang (Bodhiprabha, hay Byang Chub Od), rồi cùng với
hai người con xả bỏ quyền quý danh vọng mà xuất gia.
Xưa kia, vào thời vua Lãng Đạt Mã
hủy diệt Phật pháp, có ba vị tỳ kheo trụ tại núi Ba Khâu Bạch Lý (20)
mà tu hành. Ba vị này khi nghe nhà vua hủy diệt Phật pháp, bèn mau kíp
dùng trâu chở tất cả kinh điển sang các vùng như Thanh Hải. Về sau, các
vị tăng từ vùng Vệ Tạng như Lô Mai, Bạt Giới Huệ, v.v... cũng chạy đến
đó tu hành. Sau này chư đệ tử của các vị đó từ từ trở về Tây Tạng
mà truyền pháp, khiến chánh pháp lại được hưng thạnh.
Sự phục hưng của Phật giáo, đầu
tiên là Mật Thừa, rồi tới Hiển giáo, như sau:
1/ Tại Tiền Tạng có những vị như
ngài Lô Mai; tại Hậu Tạng có những vị như ngài La Đốn Kim Cang Tự Tại.
Họ nỗ lực hoằng dương giới luật, lập lại tăng đoàn, nên các bậc
long tượng xuất sanh, khiến giáo pháp được hưng thạnh. Về sau, lúc trú
tại vùng Nga Nhật, khi nghe Chủng Đôn Ba thuật lại sự hưng thạnh của
Phật giáo nhờ sự nỗ lực của các vị đó, tôn giả A Để Sa bèn chắp
tay tán thán: "Chánh pháp được hưng thạnh như vầy, tất phải do thánh
tăng dựng cột tràng giáo pháp, mà phàm phu tuyệt chẳng thể làm nổi".
2/ Do sự hoằng dương luật học
ở vùng Nga Nhật. Sau khi xuất gia, vua Trí Quang cung thỉnh luật sư Pháp Hộ
và Huệ Hộ đến vùng Nga Nhật mà truyền giới Tỳ Kheo, và giảng dạy luật
nghi.
3/ Do sự hoằng truyền của chư sư
sau khi lưu học ở Ấn Độ, rồi trở về truyền bá. Lúc vua Trí Quang
thoái vị mà xuất gia (21), nhà vua thấy giáo pháp còn thừa lại từ thời
Tiền Truyền chẳng hoàn chỉnh, và sự đọa lạc của chú thuật vào
đương thời; kẻ tu hành chưa đạt đến chân không pháp tánh, nhưng thường
lấy việc dâm lạc, dùng bùa chú trù ếm giết hại người, cùng những
tà pháp bội ngược chân nghĩa của chánh giáo mà cho là Phật pháp. Đại
đức Trí Quang bèn chuyên cần tu học, hy vọng làm cuộc cách mạng về
giáo chế. Lại nữa, đại đức Trí Quang chọn lựa ra hai mươi mốt thanh
niên tại ba vùng ở Nga Nhật, dạy học về Thanh Minh và Phật giáo căn bản,
rồi sau đó cấp cho lương thực và tiền bạc, để qua cầu học ở Ấn
Độ, hầu mong sau này trở về chỉnh lý những việc tệ hại. Trong số đó
có Bảo Hiền (22) sang Ấn Độ du học Phật pháp. Trước khi đi, đại đức
Trí Quang giao họ sứ mạng:
a/ Phải cung thỉnh luận sư Bảo
Kim Cang (Ratnavajra) ở Ca Thấp Di La, luận sư Đạt Ma Ba La (Dharmapala) ở đông
Ấn Độ, luận sư Ma Ni Châu (Karuna) ở nước Ca Lỗ.
b/ Phải theo luận sư Bát Nhã Phược
Lê (Prajnabala) ở trung Ấn Độ mà học hai bộ Nhiếp Tích (23) và Nhiếp
Chân Thật Kinh Khánh Hỷ Tạng Thích Luận; phải theo luận sư Ma Ni Châu và
Đạt Ma Ba La mà học Đoạn Trừ Nghiệp Chướng Tích Cập Chú Thích, Mạn
Trà La Tam Bách Tứ Thập Tôn (24), Tập Mật Mạn Trà La Nghi Quỹ (25); phải
theo luận sư Bảo Kim Cang học Thời Luân và bốn bộ luận về Kim Cang Tọa
Thích Thích.
c/ Phải thân cận hay cung thỉnh 108
vị danh sư và 12 vị đại luận sư ở chùa Tỳ Trát Ma Thi La (hay chùa
Siêu Giới), đặc biệt là ba mươi vị luận sư tối thắng, một vị tu pháp
Quán Châu, tám vị tu pháp Chiêm Bộ Trang Nghiêm, hai vị tu pháp Tam Giới
Nhãn Mục. Trong các vị luận sư này, bậc thượng phải cung thỉnh đến Tây
Tạng; bậc trung phải thân cận tu học; bậc hạ phải biết họ thông đạt
những pháp gì, và cầu họ truyền pháp, cùng thỉnh kinh thư (26).
Trong số hai mươi mốt người này,
lúc trở về Tây Tạng, chỉ có Bảo Hiền (27) và Thiện Huệ tu học thành
công, còn những người khác đều bị bịnh và qua đời tại Ấn Độ hay
trên đường đi. Lúc đến Ấn Độ, Bảo Hiền theo tu học với bảy mươi
lăm vị đại thiện tri thức như Na Lạc Ba, Liên Hoa Hộ, Thắng Hữu,
v.v..., nên đối với giáo pháp Hiển-Mật thâm sâu tinh thông chí cực, đặc
biệt là Hợp Bộ Đát Trì La Thừa. Lúc trở về Tây Tạng, ngài Bảo Hiền
cung thỉnh chư học giả Ấn Độ là Tức La Đạt Tạp La Phạm Mãnh
(Sraddhakaravarman), Ba Địch Ma Tạp Cấp Đa (Padmakaragupta), Phật Đà Tức Lợi
Tân Đa (Buddhasrisanta), Phật Đà Ba La (Buddhapala, hay Phật Hộ), v.v... Họ
cùng phiên dịch Luật Bộ và bốn bộ Đát Trì La, đặc biệt là rất nhiều
loại Đát Trì La của Du Già Bộ, như Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Tam Nghiệp
Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương Kinh, v.v... Đồng thời họ cũng hiệu
đính lại các bộ Đát Trì La đã dược phiên dịch vào các thời khác.
Ngài Bảo Hiền cũng xiển dương chân nghĩa của Mật Thừa (28), mà chẳng
công nhận Cựu Mật Pháp.
Xưa kia, kinh điển về Mật Thừa
chưa từng được phiên dịch, mà đến lúc ấy lại được phiên dịch rất
nhiều, như quyển Kiết Tường Thượng Lạc Bổn Tích Vương Lược Yếu,
Hiện Thuyết Vô Thượng Bổn Tích, Du Già Đại Giáo Vương Kinh, Nhất Thiết
Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Đại Giáo Vương
Kinh, Thanh Y Kim Cang Thủ Điều Phục Tam Giới Bổn Tích, Tối Thượng Căn Bổn
Đại Lạc Kim Cang Bất Không Đại Giáo Vương Kinh, v.v...
Nhờ dịch những quyển kinh luận này
mà Mật Thừa đã có một thời kỳ được phục hưng nhanh chóng. Người có
công giúp Mật Pháp được thạnh hành nhiều nhất là Bảo Hiền. Sau này,
lúc tám mươi lăm tuổi, Bảo Hiền được tôn giả A Để Sa truyền giáo
pháp, rồi nhập thất chuyên tu, đắc đại thành tựu. Bảo Hiền có rất
nhiều đệ tử, mà dịch sư Mã Hỷ Huệ là thượng thủ.
Trưởng tử của vua Mẫu Cố (29) là
Kiết Tường Tích Cứ Lạp Đóa và Kiết Tường Tích đều tín phụng Phật
pháp, nên đến Hậu Tạng cung thỉnh các đệ tử của La Đốn Kim Cang Tự
Tại sang vùng Lạp Đóa kiến lập Phật pháp. La Đốn Kim Cang Tự Tại sai
hai đệ tử là Thích Ca Đồng và Trí Tinh Tấn, ứng theo lời cầu thỉnh
mà sang đó hoằng bá Phật pháp. Tại Lạp Đóa, hai vị này tuyển ra từ hơn
hai trăm đồ đệ, hai vị tăng trẻ có trí huệ uyên thâm như Trác Di
Thích Ca Trí (990-1078) và Đạt La Đồng Tinh Tấn sang Ấn Độ cầu học
(30), và dặn dò rằng phải cố gắng học giới luật, Bát Nhã (31), và Mật
chú.
Đầu tiên, hai vị này sang nước
Ni Bạc Nhĩ, theo luận sư Tĩnh Hiền (32) học Thanh Minh, rồi sang chùa Tỳ
Trát Ma Thi La (tức Siêu Giới) theo học với sáu đại luận sư (33). Đạt
La Đồng Tinh Tấn vì thích đi chiêm bái các thánh tích, nên học pháp rất
ít.
Trác Di Thích Ca Trí thân cận đại
luận sư Bảo Tác Tịch trong tám năm, và cũng theo các luận sư khác mà tu
học. Về sau, Trác Di Thích Ca Trí đến Đông Ấn theo luận sư Huệ Vương
Minh thọ giáo pháp quán đảnh, tu hành, và giải thích kinh điển, cùng được
ban truyền pháp Đạo Quả. Thế nên, Trác Di Thích Ca Trí đạt rất nhiều
thành tựu. Trở về Tây Tạng, Trác Di Thích Ca Trí phiên dịch kinh luận,
như ba bộ luận về Nhị Quán Sát (34), và Nhị Vạn Bát Nhã Thích (35),
cùng rất nhiều loại Mật pháp khác. Đến năm năm mươi mốt tuổi, Trác
Di Thích Ca Trí lại theo luận sư Già Da Đạt La (từ Ấn Độ sang), học hết
giáo pháp của vị đó. Trác Di Thích Ca Trí sang Ni Bạc Nhĩ và Ấn Độ cầu
học suốt mười ba năm; lúc trở về Tây Tạng, liền thuyết giảng kinh
điển, nhiếp hóa đồ chúng, rồi sau này nhập thất tinh tấn tu hành; vị
này tịch vào năm tám mươi lăm tuổi. Trác Di Thích Ca Trí có rất nhiều
đệ tử như dịch sư Mã Nhĩ Ba, Khuếch dịch sư, v.v... Kế thừa giáo
pháp của Trác Di Thích Ca Trí là Côn Bảo Vương (36).
Dịch sư Mã Nhĩ Ba (Marpa, 1012-1097),
người vùng La Lạp Cách (Lho-brag), pháp danh là Pháp Huệ, năm mười lăm tuổi
theo Trác Di Thích Ca Trí học Thanh Minh, rồi sang Ni Bạc Nhĩ ba lần, học tập
pháp Tứ Tọa Tích, lại sang Ấn Độ ba lần thân cận các đại luận sư
như Na Lạc Ba (Naropa), Di Lặc Ba (Matripa), v.v... học pháp Tập Mật, Thắng
Lạc, Hoan Hỷ Kim Cang, Ma Ha Ma Da, Cứu Cánh Thứ Đệ, v.v... Về sau, Mã Nhĩ
Ba có rất nhiều đệ tử, mà người xuất sắc nhất là Mật Lặc Nhật
Ba (Milaraspa), vị sáng lập phái Cát Cử (Kargydpa).
Dịch sư Khuyếch Khô Ba Lạp Tắc,
đầu tiên thân cận Trác Di Thích Ca Trí, rồi qua Ấn Độ cầu học ba lần,
thân cận bảy mươi hai vị đại luận sư đắc thành tựu, y chỉ theo luận
sư Tĩnh Hiền rất lâu, học Mật pháp của phái ngài Long Mãnh, dịch quyển
Thắng Lạc Kim Cang Bảo Hành Tích, Tứ Tọa Tích, Ma Ha Ma Da Tích, Hoan Hỷ
Kim Cang Tích, v.v..., mà chủ yếu là xiển dương Tập Mật của ngài Long
Mãnh.
Trong bốn vị đại dịch sư ở trên
có ngài Bảo Hiền giảng về Nhị Vạn Bát Nhã Thích, Bát Thiên Tụng Bát
Nhã, và Bát Thiên Tụng Đại Sớ của ngài Sư Tử Hiền. Do sự hoằng
dương của ngài Bảo Hiền mà giáo nghĩa Bát Nhã được lan truyền khắp Tây
Tạng. Ngài Bảo Hiền luôn hoằng dương bốn bộ Mật pháp, và đặc biệt
là dịch rất nhiều nghi thức pháp tắc tu Mật pháp, điển hình là pháp
tu của các kinh luận thuộc Du Già Bộ.
Ngài Trác Di Thích Ca Trí chủ yếu
hoằng dương Du Già Mẫu Tích như Hoan Hỷ Kim Cang, v.v...
Ngài Mã Nhĩ Ba chủ yếu hoằng
dương Du Già Tích và Phật Đảnh Du Già Mẫu Tích của ngài Na Lạ Ba, Di Lặc
Ba.
Khuyếch dịch sư chủ yếu hoằng bá
Tập Mật của ngài Long Mãnh.
Do sự hoằng dương Phật pháp của
bốn đại dịch sư này mà Mật pháp được đem ra thuyết giảng và hành
trì nghiêm mật vào thời kỳ Phật Giáo Hậu Truyền.
Ngoài ra, còn có Nga Thiện Huệ,
Phác Nhung Ba Thắng Huệ hoằng truyền giới học. Tinh Tấn Sư Tử, Nõa Thố
Giới Thắng (37), đệ tử của Bảo Hiền là Trát Giác Hiệp Nhiêu, Cát
Pháp Hiền, Thích Ca Quang, Mã Thiện Huệ, đều là những dịch sư trứ danh
vào đương thời.
Cháu của Nga Thiện Huệ là đại dịch
sư La Đốn Hiệp Nhiêu (1059-1109), lúc nhỏ theo chú học Phật pháp, năm mười
bảy tuổi sang Ni Bạc Nhĩ cầu học với Lợi Tha Hiền, Thiện Căn Vương về
Nhân Minh, rồi theo Tát La Na, Khuyếch Di Kỳ Mai học năm bộ luận của Bồ
Tát Di Lặc và các pháp Hiển-Mật khác. Lúc trở về Tây Tạng, La Đốn Hiệp
Nhiêu dịch Nhân Minh Trang Nghiêm Sớ, và truyền bá Nhân Minh, Bát Nhã, Nhập
Hành Luận, v.v..., rồi hỗ trợ các đại dịch sư như Banh Trà Tùng Ba mà
phiên dịch kinh điển. La Đốn Hiệp Nhiêu có 23.000 đệ tử, mà Trác Lũng
Ba Huệ Sanh và Chỉ Huệ Nhiên làm thượng thủ.
Dịch sư Bạt Tào Nhật Xưng sang Ca
Thấp Di La lưu học hai mươi ba năm, và luận sư Ca Na Ca Phược Mã đến Tây
Tạng, dịch các bộ luận Trung Quán của ngài Nguyệt Xưng, rồi hoằng
dương rộng rãi.
Lại nữa, dịch sư Kiết Giác Nguyệt
Quang dịch Thời Luân, Phật Đảnh, Kim Cang Cam Lộ, Thắng Lạc, v.v...
Tang Ca Thánh Huệ, Ninh Thịnh Xưng,
Khắc ổ Cách Ba Luân Xưng, La Giáp Huệ Tích, Mai Giác Phật Xưng, Trác Huệ
Xưng, v.v... phiên dịch rất nhiều kinh luận, khiến cho đại tạng kinh Tây
Tạng ngày một phong phú.
Bên trên là những vị dịch sư đã
từng du học sang Ấn Độ Ni Bạc Nhĩ, Ca Thấp Di La, rồi trở về Tây Tạng
hoằng pháp.
Do chư tăng từ những vùng Ấn Độ,
Ca Thấp Di La, Tây Khương, Nga Nhật đem Phật pháp truyền vào mà Phật
Giáo Hậu Truyền của Tây Tạng được hưng thịnh.
Tuy nhiên, vào lúc chánh pháp bị
suy vi (38) có các người tại gia, ngã mạn tự xưng là trụ trì Mật giáo,
thường giải thích tà vạy về Mật pháp; họ cho rằng hành dâm lạc tức
là hành Phật pháp. Lúc ghen ghét người khác, họ thường tranh cãi hay tụng
chú để trù yếm nhau. Lại có một loại người, tự bảo rằng chỉ cần
tu môn Tánh Không, thì tự thân sẽ thành Phật, không cần phải hành bố
thí hay làm việc phước đức chi cho khổ nhọc. Những tà tri tà kiến vọng
giải như thế, chẳng phải có một hai loại. Những việc này kéo dài suốt
mấy trăm năm. Mãi đến khi vua Lãng Đạt Ma bị ám sát chết, các chư
tăng Ấn Độ, Ca Thấp Di La, Tây Khương, Nga Nhật, đã đem Phật pháp truyền
vào Tây Tạng, nhờ vậy Phật giáo Tây Tạng mới được hưng thịnh trở
lại. Tiếc thay, bên cạnh những vị đại sư giới đức nghiêm túc truyền
pháp từ Ấn Độ, Ca Thấp Di La vào Tây Tạng và những tăng sĩ Tây Tạng
có giới đức đầy đủ, lại còn có những kẻ tu hành chẳng giữ giới
luật mà thích tu theo Mật pháp tà vạy do các tà sư Ấn Độ, Ca Thấp Di
La tuyên truyền. Điển hình, từ Ấn Độ sang Tây Tạng có một số tà sư
đắp y ca sa màu đỏ và xanh, tự gọi là Thượng Sư Đỏ, Thượng Sư
Xanh. Họ chỉ nhớ vài đoạn Mật chú, và cộng thêm bất cứ những gì khởi
trong tâm niệm, rồi tự cho đó là chân ngôn Mật chú, mà quên đi những
điểm tinh túy của Mật pháp. Những kẻ này thường có vợ con, và thường
viết những câu Mật chú rất hấp dẫn, và bảo vợ con: "Hãy chuẩn bị
rượu thịt cho Ta. Ta sẽ luận giải về Mật pháp."
Họ dạy những pháp tà vạy dưới
tên là Du Già (Yoga) và Giải Thoát (Moksa). Họ nói rằng Du Già nghĩa là phối
ngẫu với đàn bà, và Giải Thoát (moksa) nghĩa là giết chúng sanh như kẻ
thù. Bằng cách này, rất nhiều giáo pháp tà vạy lan truyền khắp Tây Tạng
dưới tên Mật pháp. Vì bọn tà sư nầy phá hoại nên đã khiến cho Phật
giáo Tây Tạng bị suy đồi; những vị tu hành chân chánh không còn được
bao nhiêu.
Đối với các sử gia Tây Tạng, những
tà sư đó chịu tránh nhiệm chính cho việc tu hành tà vạy của quần
chúng Phật tử trước khi tôn giả A Để Sa vào Tây Tạng. Bát Nhã Cấp
Đa (Prajnagupta) là đại biểu cho bọn tà sư nầy. Mười tám đệ tử của
ông ta được người Tây Tạng cho biệt danh là ‘Mười tám tên cướp’,
vì chúng thường bắt cóc dân chúng để hiến dâng cho các nữ thần trong
những buổi lễ tu Mật pháp. Ngoài ra, còn có những kẻ chuyên tu Mật
pháp qua những cách thức vô luân lý như hành dâm dục, uống rượu, v.v...
Đại đức Trí Quang không khỏi
đau lòng nhìn thấy những hiện tượng xấu xa, những việc sa đọa như vậy
nên muốn chấn chỉnh lại chánh giáo. Dẫu Phật giáo Tây Tạng nhanh chóng
được phục hưng sau thời vua Lãng Đạt Mã, nhưng thiếu sự hợp nhất, nên
đã gây ra những việc chống trái giữa các tông phái Đại-Tiểu Thừa và
Hiển-Mật giáo. Do đó, Đại Đức soạn viết một quyển luận để bài
bác những hiện tượng sa đọa và những việc kình chống lẫn nhau như đã
nói ở trên, nhưng đã gặp phải sự chống đối mãnh liệt của các nhóm
tà sư. Nhận thấy chưa đủ khả năng để hoằng dương chánh pháp, Đại
Đức quyết định gởi các nhân tài sang Ấn Độ tu học đúng chánh ý Phật
Tổ, hy vọng lúc trở về họ sẽ chấn hưng giáo chế cho Phật giáo Tây Tạng.
Vì vậy, Đại Đức liền triệu tập thanh niên ba vùng của Nga Nhật, chọn
ra hai mươi mốt người có thượng căn thượng trí cho xuất gia học Thanh
Minh và giáo lý căn bản suốt mười năm. Sau đó, những người này được
cung cấp tiền bạc, lương thực, để qua Ấn Độ, Ca Thấp Di La (Kasmir) cầu
học Phật pháp, hầu mong sau này trở về Tây Tạng, họ sẽ chấn chỉnh
những tập tục tệ hại trong tăng đoàn. Y theo lời dạy của đại đức
Trí Quang, họ dũng mãnh lên đường sang Ấn Độ và Ca Thấp Di La du học
Phật pháp. Dọc đường vì không chịu nổi khí hậu nóng bức ở vùng Ca
Thấp Di La và Ấn Độ, nên mười chín người bị bịnh cảm mà chết, chỉ
còn lại hai vị: Dịch sư Bảo Hiền (Ratnabhdra, hay Rin-chen Zang-po) và dịch
sư Thiện Huệ (Suprajna, hay Legs-Pahi-Shes-Rab). Sau khi tham học tất cả giáo
nghĩa Hiển-Mật, đoạn hết mọi hoài nghi xong, hai vị bảo nhau:
- Chúng ta phải nên cung thỉnh những
vị cao tăng có khả năng làm lợi lạc cho dân chúng Tây Tạng trước khi
trở về cố hương.
Bàn thảo vớI nhau xong, hai vị liền
bố thí tiền cho các người nghèo và nhờ họ đi tìm các bậc thức giả,
nhưng không đạt được sự mong cầu. Lần nọ, họ đến chùa Tỳ Trát Ma
Thi La, hỏi thăm nơi đây có bậc thức giả nào làm được lợi ích cho
dân chúng Tây Tạng ? Có người đáp:
- Nơi đây có một vị tăng xuất
thân từ dòng vương giả, hiệu là Kiết Tường Nhiên Đăng Trí (39). Tất
cả chư Phật tử đều cung kính đảnh lễ vị này. Đây là vị đệ nhị
Thiên Trí của đời mạt pháp. Song, các vị khó lòng mà cầu thỉnh được
vị này. Ngoài vị này ra, không ai có đủ khả năng làm lợi ích cho dân
chúng Tây Tạng.
Tuy biết oai đức vô lượng của Tôn
Giả, nhưng hai vị này không dám mở lời cung thỉnh, mà trở về Tây Tạng,
đem hết mọi sự tình, thuật lại cho nhà vua:
- Đức Phật nhân căn tánh lanh lợi
hạ độn, phước trí sâu cạn, tu cùng chưa tu của chúng sanh, mà thi thiết
phương tiện, bao loại Đại Thừa Tiểu Thừa, Hiển giáo Mật giáo theo thứ
lớp, nhưng thật nghĩa chẳng khác. Có khả năng làm lợi ích cho dân chúng
Tây Tạng, chúng thần đi khắp cõi Ấn Độ, nhưng chưa tìm thấy một ai,
chỉ trừ tại chùa Tỳ Trát Ma Thi La, có một vị tỳ kheo xuất thân từ
dòng vương gia, được tất cả chư Phật tử đảnh lễ tôn kính, là vị
do vua Đại Hộ thỉnh từ chùa Kim Cang Tọa đến. Nếu thỉnh được vị này
thì mới chân thật làm lợi ích cho dân chúng Tây Tạng. Chư đại đức
cao tăng trong ngôi chùa đó, cũng đều thọ ký như thế.
Nhà vua nghe qua, các mối hoài nghi
đều dứt tận, lại nghe tôn đức của Tôn Giả, bèn thâm sanh tín tâm
cung kính, nên quyết chí ngưỡng thỉnh. Nhà vua bèn nhờ dịch sư Tinh Tấn
Sư Tử (Viryasimha) cùng với cả trăm quyến thuộc, mang vàng sang Ấn Độ,
tới chùa Tỳ Trát Ma Thi La mà cung thỉnh Tôn Giả. Đến nơi, họ cúng dường
vàng bạc, và khải bạch ý nguyện cầu thỉnh. Tôn Giả bảo:
- Các ông mời Ta đến Tây Tạng để
giáo hóa quần chúng Phật tử nhưng Ta thấy chưa đủ hai nhân duyên: Một
là do nhận vàng mà đi, nhưng vàng bạc đối với Ta thật là vô dụng. Hai
là phải có đầy đủ tâm Bồ Đề, xả thân vì người mà đi, thì Ta thật
chưa có đầy đủ. Do đó, Ta không đi !
Nói xong, Tôn Giả trả lại vàng bạc
cho họ. Ngài Tinh Tấn Sư Tử rơi lệ sướt mướt, cầu khẩn ba lần,
nhưng Tôn Giả vẫn chưa hứa khả. Bấy giờ các quyến thuộc của ngài
Tinh Tấn Sư Tử, đa số đều bị cảm nhiệt mà chết. Vàng bạc cũng bị
tiêu tán hết. Thấy vậy, Tôn Giả bảo chư đệ tử:
- Người Tây Tạng thật đáng thương
!
Ngài Tinh Tấn Sư Tử trở về Tây
Tạng, trình với nhà vua rằng chẳng kham nhậm việc cầu thỉnh Tôn Giả.
Nhà vua bảo:
- Xin Ngài chớ từ nan khổ nạn, xả
bỏ thân mạng. Tuy hiện tại chẳng có cách nào để cung thỉnh Tôn Giả,
nhưng do tôn đức thâm sâu của Tôn Giả, nay Ngài có thể cung thỉnh được.
Ngài Tinh Tấn Sư Tử bèn vâng mạng,
mang sáu quyến thuộc trở lại chùa Tỳ Trát Ma Thi La ở Ấn Độ, tu học,
phiên dịch những luận trước của Tôn Giả cùng các vị đại thành tựu
khác.
Bấy giờ, đại đức Trí Quang vì
muốn việc ngưỡng thỉnh Tôn Giả được thuận lợi, nên đến vùng biên
giới để tìm thêm vàng cho đoàn người đi sang Ấn Độ cầu thỉnh,
nhưng bị vua nước Cát La Lộc (40) bắt giam cầm. Khi ấy, vua Lạp Tôn Bạt
Bồ Đề Quang (41) nghe tin này, mau kíp dẫn quân sang giải cứu, nhưng không
thể đánh bại quân của ngoại đạo. Vua Bồ Đề Quang muốn trưng thêm
quân binh, nhưng sợ gây nhiều việc chết chóc, và sợ việc bất trắc,
nên lập phương tiện bằng cách đem vàng đổi lấy người. Quốc vương
ngoại đạo cũng bảo:
- Một là ông phải từ bỏ đạo
Phật, và làm chư hầu của Ta. Hai là ông phải đúc tượng người bằng vàng
thì Ta sẽ thả chú của ông ra.
Bấy giờ, từ bỏ đạo Phật là một
việc vô lý. Thế nên, vua Bồ Đề Quang bèn hứa là sẽ trả bằng vàng,
và lấy ra hai trăm lượng vàng để trao cho vua ngoại đạo, nhưng chưa đủ.
Về sau, vua Bồ Đề Quang lấy vàng trong cung điện mà đúc thành hình người
giống như đại đức Trí Quang, nhưng thiếu mất cái đầu. Song, vua ngoại
đạo chẳng chấp nhận, mà bảo rằng muốn có thêm cái đầu (bằng vàng).
Vua Bồ Đề Quang chẳng thể kiếm ra đâu để đủ số vàng đó, nên bèn
viết thơ gởi của đại đức Trí Quang: "Ngài là vị có tâm từ bi rộng
lớn. Chẳng may, Ngài bị nghiệp lực trói buộc. Ác vương kia bảo với
con rằng hãy từ bỏ đạo Phật và trở thành chư hầu của hắn ta. Song,
nếu từ bỏ Phật pháp thì tức là lệ thuộc dưới tay của hắn. Thế nên,
con nghĩ rằng việc tốt nhất là chẳng chấp nhận điều kiện đó. Hắn
ta bảo rằng nếu có số vàng bằng thân hình của Ngài, thì mới chuộc
được Ngài ra. Song, con tìm mãi chỉ có số vàng bằng thân hình mà thiếu
đi cái đầu, nên ác vương kia chẳng chấp thuận. Xin Ngài hãy an lòng, con
sẽ trở về vương thành, và cố gắng tìm đủ số vàng để chuộc Ngài
ra."
Nghe việc này, đại đức Trí Quang
viết thư bảo vua Bồ Đề Quang: "Ta đã biết ý tốt của nhà vua. Hiện
tại, Ta cảm thấy an tâm vì biết rằng nhà vua có đủ tài đức để giữ
vững ngai vàng của các đấng tiên vương. Song, Ta thiết tưởng rằng không
chỉnh lý lại Phật pháp ở Tây Tạng thì chẳng thể được. Ta nay đã
già yếu. Tuy hiện tại chưa chết, nhưng có lẽ sẽ không còn sống đến
mười năm. Từ đời vô thủy đến nay chưa từng xả mạng vì pháp. Nay
vì pháp mà chết thì thật là điều hy hữu. Đối với ác vương tội lỗi
kia, chớ đem cho hắn một miếng vàng nào hết. Tất cả vàng bạc, hãy
mang sang Ấn Độ để cung thỉnh tôn giả A Để Sa, và đem lời của Ta mà
cáo bạch với Tôn Giả rằng Ta vì ngưỡng vọng Tôn Giả và thánh giáo Phật
pháp, nên nay thí toàn thân mạng cho ác vương. Nguyện đời đời đều
được chư Phật từ bi tiếp thọ. Tâm nguyện của Ta là chỉ mong mỏi cầu
thỉnh Tôn Giả đến Tây Tạng hoằng pháp, hầu mong giáo pháp của Phật
đà được lan truyền khắp nơi. Lại nữa, xin nguyện Tôn Giả từ bi gia hộ,
đời sau sẽ được gặp Tôn Giả. Nhà vua hãy nên quên Ta đi mà chuyên
tâm vào sự tồn vong của Thánh Giáo."
Vua Bồ Đề Quang trở về Tây Tạng,
muốn tìm thêm vàng, nhưng nghe tin đại đức Trí Quang đã tự tuẫn tiết
trong ngục tối, nên đình chỉ việc đó lại, mà chuyên chú vào việc cầu
thỉnh Tôn Giả. Bấy giờ, các "Thượng Sư" áo đỏ áo xanh đang lộng
hành tuyên truyền tà chú. Vua Bồ Đề Quang thấy tình cảnh này và sự tuẫn
tiết của đại đức Trí Quang, nên âm thầm cầu nguyện Tam Bảo gia hộ
tìm được người có khả năng sang Ấn Độ cung thỉnh tôn giả A Để Sa
vào Tây Tạng để chấn chỉnh giềng mối Phật pháp. Sau bao lần cầu nguyện,
vua Bồ Đề Quang cuối cùng quyết định cung thỉnh tỳ kheo trì luật là
Giới Thắng (Silajaya, hay Chul-Khrims-Gyal-Va), vị thông suốt tạng luật và
tiếng Phạn.
Luật Sư Giới Thắng sanh ra ở vùng
Nga Nhật vào năm 1011. Luật sư Giới Thắng vốn đã từng sang Ấn Độ tu
học với tôn giả A Để Sa cùng các vị đại sư khác. Lần đầu sang Ấn
Độ tu học, dẫu chỉ mới hai mươi bảy tuổi, luật sư Giới Thắng đã
thông suốt tạng luật, và đã từng phiên dịch rất nhiều kinh điển từ
Phạn văn sang Tạng văn, nên được xưng tán là một vị luật sư và một
nhà dịch giả (42). Sợ luật sư Giới Thắng từ chối việc sang Ấn Độ
cung thỉnh tôn giả A Để Sa, nên vua Bồ Đề Quang thành tâm cung thỉnh Luật
Sư ngồi trên ngai vàng, rồi cúng dường và tác bạch:
- Bạch đại Luật Sư ! Trải qua
bao đời, chư đại Bồ Tát, chư đại thiện tri thức đã định lập quy củ,
xiển dương Phật pháp rộng rãi khắp nơi. Những vì tiên vương và đại
thần trong bao đời cũng từng hộ trì chánh pháp, khiến đạo Phật hưng
thạnh trong bao đời. Song, trong đời nay, Phật pháp suy vi, tà ma hừng thạnh,
tà pháp lan tràn, như có những tà sư áo đỏ áo xanh truyền bao tà chú dưới
tên là Mật Thừa, nên làm tổn hại Thánh giáo, khiến thâm tâm con đau xót
vô cùng. Ngài Đại Thiên (43) đã từng sai người đi khắp nơi để cầu
thỉnh chư vị thực đức, sang Tây Tạng ban truyền chánh pháp. Vì đại sự
của Thánh Giáo, họ mang trăm nén vàng sang Ấn Độ để cầu thỉnh tôn giả
A Để Sa, nhưng chưa thỉnh được. Ngài Đại Thiên (44), ra vùng biên giới
tìm thêm vàng để cung cấp cho đoàn người sang Ấn Độ cung thỉnh Tôn Giả
vào Tây Tạng, nhưng bị ác vương Cát La Lộc (Garlog) bắt nhốt.... Nay con
muốn tìm vàng để chuộc mạng, nhưng lại nghe ngài Đại Thiên đã tự tuẫn
tiết vì đạo pháp. Nếu đại Luật Sư từ chối việc sang Ấn Độ cầu
thỉnh tôn giả A Để Sa, khiến làm chúng sanh vô minh ở vùng biên địa này
thất vọng, thì Luật Sư có còn được mọi người tôn kính như một vị
đại đức có lòng đại từ bi nữa không ? Xin đại Luật Sư hãy cẩn bạch
với tôn giả A Để Sa rằng chúng sanh ở đất Tây Tạng tuy vô minh, nhưng
vẫn còn những kẻ có tâm lực thiết tha vì đạo. Tôn Giả là vị mà
chúng sanh vùng biên địa quy hướng theo. Nay có bảy trăm lượng vàng xin
dâng cúng Tôn Giả, và cẩn bạch rằng đất Tây Tạng như thành đô của
ngạ quỷ. Tìm kiếm vàng khó khăn như tìm rận trên thân cừu. Tuy chỉ có
một chút vàng, nhưng là đại bảo quý giá. Đó chính là tất cả tài vật
của nước chúng con. Nếu Tôn Giả vẫn khước từ đến Tây Tạng, thì
tâm đại bi của Thiện Sĩ như thế, con cũng chỉ theo tôn ý mà hành (45).
Xin đại Luật Sư hãy kể rõ hiện tình Phật giáo ở Tây Tạng và sự tuẫn
tiết vì đạo của đại đức Trí Quang cho tôn giả A Để Sa hiểu rõ tường
tận.
Vua Bồ Đề Quang vừa nói vừa rơi
lệ ướt đẩm cả áo cẩm bào. Luật sư Giới Thắng định mở lời,
nhưng hoàn toàn chẳng còn điều gì để thối từ. Luật Sư lại suy nghĩ
rằng những vị vua dòng quý tộc kia, trân trọng thánh giáo như thế, mà
chẳng tiếc thân mạng, còn tỳ kheo an phận như mình, lương tâm để ở
chỗ nào ? Do đó, Luật Sư chẳng quản đường xa nguy hiểm, đe dọa tánh
mạng, chấp thuận lời thỉnh cầu của vua Bồ Đề Quang mà sang Ấn Độ
để cung thỉnh Tôn Giả (46). Vua Bồ Đề Quang sai cả trăm người đi theo,
nhưng Luật Sư chỉ chọn sáu người mang vàng đi theo. Lúc tiễn đưa, vua Bồ
Đề Quang dặn dò:
- Quý Ngài xả bỏ thân mạng, chẳng
ngại bao gian nan, vì con mà làm Phật sự. Song, lúc trở về, con sẽ báo đền
thâm ân. Xin hãy cố gắng cầu khẩn Tôn Giả khởi lòng đại bi mà sang đất
Tây Tạng.
Đoàn người của luật sư Giới Thắng
đi đến vùng Ni Bạc Nhĩ (Nepal), thì gặp một Không Hành Nhân, bảo:
- Nay các vị đi phương xa để làm
việc đại sự, vậy nên đọc tụng lời này, thì đại sự sẽ được thành
tựu: "Kính xin Tam Bảo từ bi gia hộ cho chánh pháp thù thắng được
xiển dương rộng rải ở xứ Tuyết Sơn (47)." Hãy đọc tụng như thế,
thì trên đường đi sẽ không gặp các hiểm nạn.
Luật sư Giới Thắng hỏi:
- Ngài là ai ?
- Từ từ Ngài sẽ biết !
Lúc vào nội cảnh của nước Ni Bạc
Nhĩ, Luật Sư cùng phái đoàn đến vùng Trúc Lô, rồi vào nhà dân chúng
xin ngủ tạm qua đêm. Có một số người biết phái đoàn mang theo vàng,
nên muốn giết người cướp của. Luật sư Giới Thắng cùng phái đoàn
vì mệt nhọc, lại thêm khí trời nóng bức, nên chẳng bao lâu đều ngủ
say. Bấy giờ, một vị bạch y gõ cửa bước vào hô to:
- Chớ ngủ ! Chớ phóng dật ! Hãy
mau tỉnh dậy ! Nếu ngủ thì sẽ mất mạng và tài bảo. Ta vốn là tổng
Bổn Tôn của đất Tây Tạng (48).
Luật sư Giới Thắng và đoàn ngườI
kịp thời tỉnh dậy vội vàng ra đi. Đến chiều tối, đoàn người gặp
và cùng tháp tùng với vị tiểu vương nước Ni Bạc Nhĩ mà đến Ấn Độ.
Khi đến Bồ Đề Đạo Tràng (Buddhagaya) luật sư Giới Thắng nhìn xa tích
tận chân trời, thấy vòm kim đảnh của chùa Tỳ Trát Ma Thi La tỏa sáng dưới
ánh nắng hồng, nên lòng tràn đầy niềm xúc động mạnh mẽ và cảm nhận
phong cảnh huy hoàng nầy vốn là một điềm lành, biển hiện cho việc thỉnh
cầu tôn giả A Để Sa sẽ thành công. Song, vẫn còn phải đi ba ngày nữa
mới bờ sông Hằng. Lúc họ đến sông Hằng thì mặt trời đã lặn về
phương tây. Thuyền ít mà người nhiều. Tiểu Vương nước Ni Bạc Nhĩ vì
có quyền thế, nên được đi trước. Luật sư Giới Thắng tự nhủ thầm
hôm nay chưa được qua sông, vậy Ta hãy chôn vàng dưới đất, rồi tìm nơi
khác mà ngủ, nhưng rồi có vị bạch y đúng lúc chèo thuyền đến. Luật
Sư liền hỏi:
- Quý danh của ông là gì ? Thuyền
này đi về đâu ?
Đáp:
- Do đón các quyến thuộc mà đến.
Đại tâm hữu tình đã đến nơi này. Thánh giả nếu không hiện ra thuyền
bè, thì e rằng không kịp nghinh đón. Hãy lên đây để qua bến Ca Ma La.
Luật Sư và đoàn người mang vàng
lên thuyền, rồi hỏi:
- Ngài là ai ?
Đáp:
- Cụ Thọ (49) ! Lúc vừa gặp lại
không nhận ra (50), lúc gặp nhau không xấu hổ chút nào (51), lúc gặp nhau
xong thì không đoạn tình (52), lúc người yếu thì làm lợi ích; thuận thời
thì đến, gặp nhau lâu tất không khiếm khuyết (53); rồi đây Ngài sẽ biết.
Chẳng mấy chốc, thuyền đã đến
bờ. Người ấy bảo:
- Nay trời đã khuya. Sợ rằng sẽ
gặp nạn rắn độc hay trộm cướp, hãy nên đi thẳng đến cửa chùa Tỳ
Trát Ma Thi La mà ngủ.
Nói xong, người đó bèn chèo thuyền
đi mất. Luật Sư cùng đoàn người đi thẳng đến chùa. Bấy giờ ngài
Tinh Tấn Sư Tử (54), đến gặp họ và hỏi:
- Các ngài từ đâu đến ?
Đáp:
- Chúng tôi từ vùng Nga Nhật (Tây
Tạng) đến.
- Nơi đây có một đồng tử giữ
cửa, có thể đưa tài vật giao cho vị này cất giữ thì được an tâm mà
nghỉ ngơi.
Đồng Tử bảo:
- Giữ tài vật như giữ oan gia. Giữ
chúng như giữ tâm. Phải y theo tâm vì đó là người bạn tối thắng. Các
vị hãy an tâm mà nghỉ ngơi.
Luật Sư tự nhủ rằng đồng tử
kia nói được những lời đó, tức chẳng phải phàm nhân, liền giao tất
cả tài vật cho đồng tử đem cất, và an tâm mà nghỉ ngơi. Sáng hôm sau,
một đồng tử nọ, mặc hai lớp áo vải và tay cầm một bình bát nhỏ bằng
gỗ, mở cổng chùa mà bước ra, nói toàn những lời giống hệt các chú mục
đồng ở Tây Tạng; chú mục đồng hỏi:
- Quý vị từ đâu đến đây ?
Trên đường không gặp những việc sợ hãi chứ ?
Đáp:
- Chúng ta là người Nga Nhật. Trên
đường đi được bình an. Ngươi là ai ?
- Tôi cũng là người Tây Tạng.
Song, người Tây Tạng chúng ta thích nói nhiều nhưng lại ngây thơ thật thà.
Biết đó là việc quan trọng nhưng chẳng biết giữ bí mật. Thế nên, phải
cẩn mật mà hành đại sự. Khi đến địa phận làng Tây Tạng, hỏi dân
làng thì sẽ biết tôi và biết nơi cư trú của ngài Tinh Tấn Sư Tử.
Nói chưa dứt lời, chú mục đồng
đã biến mất.
Dọc đường cái, Luật Sư và đoàn
người gặp vị tiên nhân, mắt đỏ, thân gầy, râu tóc màu vàng chấm
vai, tay chống gậy trúc, miệng hỏi:
- Quý vị từ phương nào đến ? Muốn
tới nơi nào ? Muốn làm việc gì ?
Đáp:
- Chúng tôi từ nước Nga Nhật đến
để cung thỉnh tôn giả A Để Sa. Ngài Tinh Tấn Sư Tử đang cư trú nơi nào
?
Vị tiên nhân đó dựa mình vào
cây gậy, xoe tròn đôi mắt nhìn họ, bảo:
- Sáng nay đồng tử kia nói chẳng
sai. Người Tây Tạng chẳng biết giữ lời cẩn mật. Ngay cả những kẻ
đáng nghi ngờ, mà họ vẫn nói hết các việc bí mật. Làm như thế mà muốn
thành tựu đại sự sao được ? May thay ! Đối với Ta thì chẳng sao. Từ
rày về sau, trừ khi gặp tôn giả A Để Sa, chớ có nói điều bậy bạ.
Nay Ta sẽ chỉ chỗ của Tinh Tấn Sư Tử cho.
Bấy giờ, vị tiên nhân tuy đi chậm
rãi, nhưng Luật Sư và đoàn người không đi theo kịp, nên sanh lòng cung
kính hy hữu. Vị tiên nhân đó đến trước cổng trụ xứ của Tinh Tấn
Sư Tử, bèn ngồi xuống đợi, và bảo:
- Việc đại sự thì phải làm từ
từ. Chậm rãi tức là nhanh; chớ gấp gáp theo dục tình. Muốn trèo lên đỉnh
núi cao, phải đi theo từng bậc đá. Đây là trụ xứ của Tinh Tấn Sư Tử.
Luật sư Giới Thắng bước vào
nhà, thấy ngài Tinh Tấn Sư Tử đang đứng xem kinh chữ Phạn, liền cúi đầu
đảnh lễ, rồi cúng dường chút ít vàng. Ngài Tinh Tấn Sư Tử hỏi:
- Ông từ đâu đến đây ?
Luật sư Giới Thắng bèn thuật lại
nhân duyên sang Ấn Độ tường tận. Ngài Tinh Tấn Sư Tử bảo:
- Dường như ông là một trong những
đệ tử của Ta, mà Ta chẳng nhận ra. Từ rày về sau chớ nói lời cung
nghinh Tôn Giả, mà hãy bảo rằng sang đây để cầu học Phật pháp. Nơi
đây có thượng tọa La Na A Ca La, đầy đủ đại thế lực, cũng là vị
thân tín của tôn giả A Để Sa. Các ông nên theo vị thượng tọa này mà
nghe kinh, và nhiếp hộ tâm của vị đó; chớ để vị đó biết mục đích
sang Ấn Độ của các ông. Nay có thể cúng dường nửa lạng vàng cho vị
đó, và bảo rằng đến để cầu học, chứ không cung thỉnh bậc đại
thiện xảo nào. Xin nguyện y theo dưới tòa, học Phật pháp và các pháp
thiện xảo. Hãy cầu xin vị thượng tọa đó từ bi nhiếp thọ. Sự việc
chớ gấp gáp. Tâm chớ bất an. Khi dịp may tới, chúng ta có thể từ từ
thi thiết phương tiện, đến trụ xứ của Tôn Giả mà cầu thỉnh.
Lúc đó Luật Sư đã biết rõ thâm
ý của ngài Tinh Tấn Sư Tử, nhưng lại giả vờ hỏi:
- Nếu thỉnh không được Tôn Giả,
thì có thể thỉnh những vị đại đức dưới tòa của Tôn Giả được
chăng ?
Đáp:
- Chớ nói lời này ! Nếu như thế
thì trong bao năm trước, Ta đã thỉnh được hơn hai mươi vị rồi. Song, tánh
tình của dân chúng Tây Tạng, ông chẳng biết rõ sao ? Trừ tôn giả A Để
Sa, chẳng ai có thể điều phục được họ. Tôn Giả có đầy đủ tăng
thượng bất cộng ý lạc. Nay có thể thỉnh được Tôn Giả.
- Còn những vị đại đức khác
thì sao ?
- Chư đại đức cao tăng ẩn mật
như tinh sao. Có năm mươi hai vị đại thiện xảo, đầy đủ thắng đức
bất tư nghì hy hữu như ngài Chủng Tỷ Bạt, Liên Hoa Giới, Du Hý Kim Cang,
v.v... Song, trừ tôn giả A Để Sa ra, không ai có đủ khả năng để làm lợi
ích cho người Tây Tạng.
- Tôn giả A Để Sa thì như thế nào
?
- Người Tây Tạng chúng ta yếu
kém như thế, nên phải cần có sự giáo hóa của một vị đại thiện xảo
như tôn giả A Để Sa. Ông hãy tự đến quán sát tăng đoàn. Giữa hơn
1.800 vị tăng, dẫu nhìn từ góc độ nào, dẫu đứng tại địa vị nào,
vị nào có oai đức thù thắng hùng dũng, vượt lên trên hết mọi người,
tướng hảo trang nghiêm, giới đức thanh tịnh bậc nhất, chính là tôn giả
A Để Sa. Hãy nên ngày đêm cầu khẩn.
Sau đó, luật sư Giới Thắng y theo
lời của ngài Tinh Tấn Sư Tử, đến tham vấn thượng tọa La Na A Ca La. Đảnh
lễ xong, luật sư Giới Thắng liền cúng dường năm lượng bạc, và khải
thỉnh y chỉ cầu học. Thượng tọa La Na A Ca La an ủi bảo:
- Lời của ông thật rất hay. Này
Cụ Thọ ! Ta chẳng để tôn giả A Để Sa đến Tây Tạng đâu ! Đây chẳng
phải do tình riêng, mà vì nơi đây nếu không có Tôn Giả thì không có bậc
đại thiện xảo nào hàng phục được ngoại đạo. Ấn Độ vốn là vùng
đất chính yếu của Phật giáo. Nếu không có Tôn Giả thì dân chúng chẳng
còn hưởng pháp lạc. Điển hình, tất cả đạo tràng ở Ấn Độ đều
do một tay Tôn Giả chấp chưởng. Ta cũng thương cho dân chúng Tây Tạng.
Vì đặc biệt tôn sùng Tôn Giả, mà quốc vương Tây Tạng mất hết tài bảo.
Nếu ông muốn vì hoằng duơng Phật pháp, phải nên phát tâm đại dũng mãnh,
tu học hết tất cả pháp. Ta cũng tận lực chỉ dạy. Tăng sĩ Tây Tạng
các ông có thể đại biểu cho chư tăng Ấn Độ mà hoằng dương Phật pháp;
đây thật là điều hy hữu !
Vài hôm sau, nhân dịp có đại hội
tăng già, tất cả chư vị đại thiện xảo Ấn Độ đều vân tập về
chùa Siêu Giới. Vào dịp đó, thượng tọa La Na A Ca La dẫn luật sư Giới
Thắng vào tăng đoàn, sắp xếp chỗ ở cho Luật Sư tại tăng xá mà chư
cao tăng thường nghỉ ngơi. Luật sư Giới Thắng cung kính tất cả chư đại
đức cũng như cung kính Tôn Giả, nên vị thủ tọa trong tăng chúng chẳng
chút nghi ngờ. Luật Sư trông thấy vị thủ tọa trưởng lão đạo cao đức
trọng mà ai gặp cũng khởi tâm thâm tín, đã tưởng lầm là tôn giả A Để
Sa, nên tìm hỏi một vị tăng trong tăng chúng; được vị tăng đó cho biết:
- Chẳng phải tôn giả A Để Sa mà
là ngài Minh Liễu Đỗ Tập, một bậc đại cao tăng thành tựu; vị này vốn
là đại đệ tử của ngài Nguyệt Xưng, và chính là tôn sư của tôn giả
A Để Sa.
Về sau, Luật Sư gặp các vị đại
thành tựu như Hưởng Để Bạt, Nõa Nhiệt Bạt, v.v..., bèn hỏi chư tăng
rằng có phải là tôn giả A Để Sa chăng ? Họ đáp:
- Chẳng phải ! Vị Hưởng Để Bạt
vốn là vị đại thành tựu thiện xảo, cũng là bậc sư trưởng của tôn
giả A Để Sa. Vị Nõa Nhiệt Bạt đây, hiện đời không ai sánh bằng, cũng
là bậc sư trưởng của tôn giả A Để Sa.
Luận Sư đi hỏi khắp nơi, nhưng
chưa gặp được Tôn Giả, nên buồn rầu tự tĩnh tọa.
Lần nọ, vua Tỷ Trát Ma La đến
thăm chùa. Vào lúc ngồi trên bảo tọa, thấy các vị đại đức đi ngang
qua mà nhà vua không màng đứng dậy lễ bái. Lúc chư tăng vân tập đông
đủ xong, Tôn Giả mới bước ra với tướng hảo oai nghiêm mà mọi người
ngắm nhìn không chán (55). Oai đức của Tôn Giả thật tôn quý, mặt luôn
hiện nụ cười giải thoát. Một vị tỳ kheo trẻ mang bát hương trầm đi
trước để cung thỉnh Tôn Giả thượng đường. Nhìn thấy Tôn Giả từ
xa bước đến, nhà vua lập tức đứng dậy, và tất cả chư tăng cũng đều
đứng dậy cung nghinh. Tôn Giả bước vào tăng viện an nhiên ngồi trên bảo
tọa. Bấy giờ luật sư Giới Thắng tự nhủ: "Tất cả tăng chúng đều
đứng dậy chấp tay cung kính. Đây phải chăng là tôn giả A Để Sa ?"
Thầm nghĩ xong, Luật Sư liền hỏi
vị tăng đứng kế bên:
- Có phải đây là tôn giả A Để
Sa chăng ?
Đáp:
- Sao lại nói như thế ? Đây là
ngài Tiếu Dũng Kim Cang, vị đại thiện xảo hành trụ vô định (56).
- Công đức của vị này như thế
nào ?
- Công đức của Ngài, tôi không thể
nào suy lường được.
Lần khác, Luật Sư đến trước cửa
chánh điện, tụng đọc tâm kinh, đến đoạn vô sắc vô thọ, thì chư đại
đức đi ngang qua, chẳng hề nói lời nào. Lúc Tôn Giả đến, bèn mỉm cười,
dạy Luật Sư:
- Này Cụ Thọ ! Lời của ông vốn
là âm thanh của thế tục. Phải tụng đọc vô sắc "A", vô thọ
"A" !
Luật Sư tự nhủ: "Đây chính
là bậc đại đức đầy đủ tâm Đại Bi, đức cao chẳng ngã mạn, khiến
người nghe bèn phát khởi tín tâm."
Thấy có các người khác đi theo Tôn
Giả, nên tuy định cầu thỉnh, nhưng Luật Sư lại không dám.
Sáng nọ, nghe Giới Thắng đọc to
chữ vô sắc "A", nhưng âm thanh không hay, nên Tôn Giả cười bảo:
- Này Cụ Thọ ! Âm thanh của Quán
Tự Tại (57) chẳng tệ. Ông nên đọc thẳng câu "vô sắc vô thọ"
đi.
Luật sư Giới Thắng nghe lời dạy
này, tín tâm lại càng tăng gấp bội, nên đi theo sau Tôn Giả. Khi thấy
Tôn Giả ra ngoài đuờng bố thí cho người nghèo khổ, Luật Sư liền hỏi
các người nghèo đó:
- Đây có phải là tôn giả A Để
Sa chăng ?
Đáp:
- Sao lại hỏi như thế ? Chớ thỉnh
tôn giả A Để Sa đến Tây Tạng ! Chúng tôi sẽ bị đói rách cô đơn. Đây
chẳng phải là tôn giả A Để Sa. Tôn Giả đã đi qua chỗ khác ở rồi
(58).
Ngày nọ, Tôn Giả ra ngoài bố thí
thức ăn cho những người nghèo cùng, nhưng thiếu đi một phần cho một đồng
tử. Đồng tử đó bèn chạy theo Tôn Giả mà gọi:
- A Để Sa, Bạt La Ha, Bạt Đạt
Văn !
Luật Sư nghe được lời này mới
biết đây chính thật là Tôn Giả, nên tự dưng nước mắt tuôn trào, vội
bước theo Tôn Giả. Bấy giờ, Tôn Giả đứng lại an ủi:
- Này Cụ Thọ ! Ông thật có lòng
chân thành. Chớ buồn rầu ! Ta đã biết tâm ý tốt của vua và dân chúng
Tây Tạng. Song, nay Ta đã già yếu, lại chấp chưởng rất nhiều tự viện.
Các ông vẫn chưa chịu quên Ta. Vậy hãy cầu khẩn Tam Bảo gia hộ.
Hôm nọ, thừa dịp chẳng có vua
quan hay các đại học giả để ý đến, ngài Tinh Tấn Sư Tử bảo luật
sư Giới Thắng cùng đến phòng phương trượng của Tôn Giả. Đến nơi, họ
dâng cúng một tấm Đà La Ni bằng vàng, cao một khối vuông với vài trăm
lượng vàng được xếp đặt ở chung quanh. Bấy giờ, ngài Tinh Tấn Sư Tử
chân thành tác bạch về lịch sử của các vị vua Bồ Tát hộ pháp khiến
chánh pháp được truyền bá trong bao đời, việc vua Lãng Đạt Ma hủy diệt
Phật pháp và các tà sư ngoại đạo truyền bao tà pháp khiến Phật giáo bị
suy vi, việc những vị tăng ở các vùng Tây Khương, Nga Nhật chấn hưng chánh
giáo, việc đại đức Trí Quang tuẫn tiết vì pháp trong lao tù, việc vua Bồ
Đề Quang bỏ mất bao công sức và vàng bạc để cung thỉnh Tôn Giả,
cùng những lời cầu khẩn Tôn Giả vào Tây Tạng của vua Bồ Đề Quang.
Cuối cùng, ngài Tinh Tấn Sư Tử tác bạch:
- Nay Cụ Thọ đến đây cầu thỉnh
Tôn Giả sang Tây Tạng. Hai chúng con đã từng trải qua bao khổ nhọc mà cầu
thỉnh, nhưng không có kết quả. Sao Tôn Giả không thương xót cho người Tây
Tạng chúng con ? Nay xin Tôn Giả vì lòng từ bi mà sang Tây Tạng.
Tôn Giả đáp:
- Lời chân thật của các ngươi,
Ta đã thấu rõ. Các quốc vương Tây Tạng thật là những vị Bồ Tát hóa
thân, bằng không thì chẳng thể làm được những sự nghiệp hộ trì Phật
pháp. Nay quốc vương Tây Tạng đã đem qua đây hết tận tài vật. Thật
đáng thương thay ! Ta vốn chẳng phải ích kỷ, chỉ vì thánh giáo đại sự.
Hiện tại, Ta đang đảm nhiệm trụ trì tám trăm ngôi chùa, và còn nhiều
việc Phật sự chưa làm hoàn tất. Tuổi tác cũng cao, e rằng không thể
gánh vác nổi sự nghiệp hoằng pháp ở Tây Tạng. Song, vì Ta mà người chú
(59) của quốc vương Tây Tạng phải bỏ mình. Đây thật là công hạnh của
một vị Bồ Tát chân chánh. Ta chẳng thể từ chối lời thỉnh cầu của
vị Bồ Tát đó. Sự khổ nhọc của các ông sẽ không uổng phí. Khoảng mười
tám tháng nữa thì Ta mới ủy nhiệm lại hết các công việc Phật sự.
Nay các ông nên tạm thời giữ số vàng này lại, và chớ nói rằng Ta sẽ
qua Tây Tạng. Các ông có thể lưu lại đây học tập phiên dịch kinh điển.
Tối hôm đó, Tôn Giả cúng dường
Độ Mẫu (Tara), cầu khẩn thỉnh vấn ba việc như so sánh giữa việc đến
Tây Tạng và trụ trì Phật pháp ở Ấn Độ thì việc nào lợi ích hơn, có
nên làm mãn tâm nguyện Bồ Tát của vua Tây Tạng chăng, thân mạng có bị
gặp tai nạn gì chăng ?
Khải bạch xong, Tôn Giả bèn đi
nghỉ ngơi. Ngay trong đêm đó, Tôn Giả mộng thấy Độ Mẫu bảo:
- Trong thành của ngoại đạo kia, có
một pháp đường nội giáo. Nơi đó có một vị Du Già Mẫu. Ông nên đến
đó mà thỉnh hỏi.
Hôm sau, Tôn Giả tìm đến thành
quách đó, và trần thiết cúng dường. Bấy giờ, đột nhiên từ đâu đi
lại, có một Du Già Mẫu, tóc dài chấm đất. Cúng dường xong, Tôn Giả
bèn hỏi về việc sang Tây Tạng. Du Già Mẫu bảo:
- Đến Tây Tạng có lợi ích lớn,
khiến cho tâm nguyện của vua Tây Tạng được mãn nguyện, và Phật pháp cũng
được xiển dương. Nơi đó có Chủng Đôn Ba, một đại đệ tử của
Ông. Về sau, người này sẽ tiếp nối sự nghiệp hoằng dương chánh pháp
của Ông. Lợi ích tuy nhiều, nhưng thọ mạng lại giảm.
Tôn Giả hỏi:
- Mạng giảm bao năm ?
- Không đến Tây Tạng thì sẽ thọ
đến chín mươi hai tuổi. Đến Tây Tạng thì chỉ thọ bảy mươi ba tuổi.
Tôn Giả suy nghĩ: "Làm lợi
ích cho chúng sanh, có bị đoản mạng thì chẳng sao (60)."
Ngày nọ, Tôn Giả gọi luật sư Giới
Thắng ra bảo:
- Hãy cùng Ta đến Kim Cang Tọa.
Vừa đến nơi, Tôn Giả thấy một
đồng tử, tay cầm cung tên, quỳ bạch:
- Nay cầu thỉnh Tôn Giả qua Tây Tạng
để làm nơi nương tựa cho dân chúng Tây Tạng. Những người Tây Tạng như
Cụ Thọ đây, thật rất đáng thương !
Nói xong, đồng tử bèn biến mất.
Bấy giờ, luật sư Giới Thắng hỏi:
- Vị này là ai, từ đâu đến ?
Tôn Giả đáp:
- Ngày mai tại phía bắc của Kim
Cang Tọa có một Du Già Mẫu vừa đi vừa ca múa mà đến đây. Ông có thể
thỉnh hỏi.
Sáng hôm sau, Giới Thắng ngồi chờ
đợi, rồi thấy một Du Già Mẫu mặc y bằng da nai, tóc dài xỏa đến
vai, tay cầm một cái trống nhỏ, nhảy múa mà đến. Giới Thắng thỉnh hỏi
về việc của ngày hôm qua. Bà ta đáp:
- Người Tây Tạng các ông sao hỏi
ngược lại người Ấn Độ chúng tôi ?
Nói xong, bà ta bèn bỏ đi.
Lần nọ, Giới Thắng theo Tôn Giả
sang chùa Na Lan Đà. Lúc Tôn Giả ngồi dưới cây đại Bồ Đề, thì bên
phải có đồng tử thuở trước hiện đến, còn bên trái thì có một đồng
nữ thân màu xanh biếc. Chúng đồng chống khủy tay trên đầu gối của Tôn
Giả, nhìn nhau mà cười. Giới Thắng tự nhủ: "Tôn Giả bị thế
pháp hỗ tương làm não loạn, sao lại trụ nơi đây ?"
Bấy giờ đồng nữ kia bảo:
- Thắng Tiền, Thắng Tử hiệu Giới
Hộ; đã trụ nơi thắng địa mà hiện thắng hạnh. Cứu cánh thắng hạnh
khiến chúng sanh nương y. Cha con bậc thắng giả (61), Ta đều đảnh lễ.
Đồng nam bảo:
- Nơi nào hộ thắng sự, thì đồng
nữ ngươi nên đến nhà của Ta, để tăng thêm thọ dụng và phước lạc;
hoan hỷ cùng trụ, trừ tai hoạn. Ha ha ! Nay Tôn Giả sẽ đến Tây Tạng !
Nói xong, chúng bèn biến mất.
Giới Thắng tự nhủ: "Hai vị
này chính là hóa thân Bồ Tát."
Suy nghĩ xong, Giới Thắng thỉnh hỏi
Tôn Giả:
- Thuở trước, trên đường sang
Ấn Độ con đã gặp đồng tử này, cho đến hôm nay cũng gặp lại. Vậy
đồng tử này là ai ?
Tôn Giả đáp:
- Tại phía nam cổng thành Tỷ Trát
Ma, có một đồng nữ chuyên dệt vải, Ông hãy đến đó mà hỏi.
Giới Thắng nghe theo lời của Tôn
Giả, liền qua đến đó thỉnh hỏi. Đồng nữ bèn xướng ca:
- Nơi phương bắc thị hiện đản
sanh. Ông biết danh tánh và xứ sở, chớ tự khi dối mà hỏi tôi; đây là
hóa thân của người đó.
Giới Thắng nghe qua bèn biết rõ rằng
vị Không Hành, vị cứu tinh ở Trúc Thất, vị lái đò bên sông Hằng, vị
đồng tử giữ cửa chùa Tỳ Trát Ma Thi La, vị Tinh Tấn Sư Tử đứng bên
cửa chùa Tỳ Trát Ma Thi La, vị đồng tử người Tây Tạng, vị tiên nhân
trên đường cái, vị đồng tử khất thực, vị đồng tử mang cung, vị
đồng nam đồng nữ hôm qua, đều là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Giới Thắng lại biết rằng có
Tinh Tấn Sư Tử thường đi theo cầu thỉnh Tôn Giả, nên rất an tâm.
Khi xưa, vị sư trưởng của Tôn Giả
là Đô Ha La đã từng ban cho Tôn Giả một Huyễn Kính Quán Địa, và bảo:
- Sau này Ông sẽ đến Tây Tạng
ở phương bắc. Tại đó có một thắng địa; phía bắc có Y Sơn; phía nam
có bình nguyên. Nơi đó sẽ có một Du Già Nữ (62) chỉ dạy rõ ràng. Sự
nghiệp hoằng dương Phật pháp của Ông ở Tây Tạng sẽ được hưng thạnh.
Nơi đó, Ông sẽ xây cất chùa chiền, độ rất nhiều tín chúng. Song, đây
là một sứ mạng cam go, vì hiện tại xứ biên địa đó vốn là nơi hoang
dã, chẳng có chánh pháp. Ông cũng chẳng trở về lại Ấn Độ.
Lúc giảng kinh ở chùa Tô Ma Phú
Lê (Somapuri), Tôn Giả cũng từng dự đoán rằng sẽ xả bỏ nhục thân ở
Tây Tạng.
Tôn Giả chỉ vì đại sự của Phật
giáo, nhưng lại sợ thượng tọa La Na A Ca La (thân tín) biết được, và
các quốc vương lưu giữ, nên âm thầm đi chiêm bái các thánh tích, mà
hành trụ không định xứ.
Lúc Tôn Giả đến Kim Cang Tòa, Giới
Thắng và Tinh Tấn Sư Tử đảnh lễ dưới chân, và rơi lệ, cùng tiếp tục
chân thành cầu thỉnh Tôn Giả sang Tây Tạng hoằng pháp. Tôn Giả bèn hứa
khả, rồi đem chức vụ trọng trách ở tất cả chùa chiền, giao lại cho
các vị phụ tá. Sau khi làm xong hết tất cả Phật sự, Tôn Giả quyết định
đến Tây Tạng. Trước nhất, Tôn Giả muốn đi chiêm bái tất cả thánh
tích. Song, nếu chuẩn bị nhiều hành trang, thì sợ rằng thượng tọa La
Na A Ca La biết được. Nếu không chuẩn bị thì ba mươi mốt kiện kinh điển
và tượng Phật không có cách gì để mang sang Tây Tạng được. Giới Thắng
cũng lo buồn. Vào một buổi tối nọ, đột nhiên có hai cha con (63) dẫn ba
mươi mốt cỗ xe bò đến. Tất cả kinh tượng của Tôn Giả đều được
lên xe hết, rồi đến giữa đêm thì đoàn người lên đường. Hôm sau,
Tôn Giả đến từ biệt thượng tọa La Na A Ca La:
- Nay Ta sẽ dẫn Cụ Thọ đi chiêm
bái các thánh tích để hành pháp cúng dường. Lúc Ta chưa trở về, cầu
mong Ông được cư trú an lạc.
Thượng tọa La Na A Ca La thưa:
- Thật hay lắm thay ! Con cũng muốn
đi chiêm lễ, để hầu cận Tôn Giả vài ngày.
Thế nên, tất cả đồng đến Kim
Cang Tọa. Cúng dường xong, Tôn Giả lại bảo các chư tăng đồng hành:
- Nước Chi Na Đế Lê (C'indilla
Krama) ở gần biên giới Ấn Độ, có một đại thần muốn kiến lập chùa
chiền, nên cầu thỉnh Ta sang đó mà gia trì. Năm xưa vì bận rộn, Ta chưa
qua đó, nên nay muốn đi. Các ông có thể quay về.
Có rất nhiều tăng chúng nghe thế
bèn cùng nhau trở về tự viện, nhưng thượng tọa La Na A Ca La cùng hơn sáu
mươi người vẫn đi theo Tôn Giả. Lễ bái các thánh tích như thế xong, cuối
cùng họ đến chùa Chi Na Đế Lê ở vùng biên giới. Khi ấy, tất cả chư
tăng trong chùa đều vui mừng, đồng bước ra đảnh lễ cung nghinh Tôn Giả.
Viếng thăm chùa xong, Tôn Giả bảo thượng tọa La Na A Ca La:
- Này Trưởng Lão ! Nay Ta sẽ qua
chiêm bái chùa Mật Đa La (Mitra). Đường đi rất xa; Ông không sợ khổ nhọc
sao ?
Thượng tọa La Na A Ca La biết rằng
Tôn Giả sẽ qua Tây Tạng, nên bảo Giới Thắng:
- Này Cụ Thọ ! Ông nói rằng đến
đây để cầu học Phật pháp. Hôm nay mới biết rõ rằng vua Tây Tạng sai
ông qua đây để đoạt lấy vị đại đức của Ta. Xưa kia, các ông đã từng
đến đây cầu thỉnh, mà Ta chẳng xả bỏ Tôn Giả. Nay xả hay chẳng xả,
Ta cũng tự tại. Song, do ý lạc thanh tịnh muốn đi của Tôn Giả, nếu
không xả thì Ta làm chướng ngại cho hạnh lợi tha của Tôn Giả. Riêng
ông chắc cũng không được vui. Hơn nữa, ông vốn là đệ tử của Ta. Nếu
lòng không được vui thì Ta đã làm trở ngại cho việc nhập tam ma địa
(thiền định). Vua Tây Tạng của ông cũng thật đáng thương. Nhà vua đã
từng đem hết của cải tài bảo để cung thỉnh Tôn Giả mà không kết quả.
Ta cũng tự thấy xấu hổ. Nay cho ông vai mượn Tôn Giả ba năm, sau đó phải
đưa Tôn Giả trở lại Ấn Độ. Nếu không thì Ta cũng chẳng nhập được
tam ma địa.
Giới Thắng tự nhủ: "Ấn Độ
và Tây Tạng xa cách muôn trùng. Chỉ có ba năm ngắn ngủi, thì khó lòng
khiến cho người Tây Tạng đạt được lợi lạc. Sau ba năm nếu đưa Tôn
Giả trở lại Ấn Độ, thì cũng chẳng có lợi ích lớn. Nếu không đưa
Tôn Giả trở lại, thì vi bội Tam Muội Da (64). Nay phải làm sao ?"
Giới Thắng vừa suy nghĩ vừa rơi
lệ. Bấy giờ, Giới Thắng thấy xa xa có một đồng tử cầm cương cỡi
ngựa đi đến hỏi:
- Thầy có hình tướng xuất gia,
sao lại rơi lệ thống khổ như thế ?
Giới Thắng bèn thuật lại việc
đó. Đồng tử bảo:
- Kẻ thiếu học ở thế gian được
lợi lạc do có tâm thâm tín. Nay tôi sẽ chỉ Thầy một việc, chẳng hay
có làm được chăng ?
Giới Thắng suy nghĩ: "Xưa kia,
Bồ Tát Quán Âm hiện thân cứu giúp mà mình chưa từng đảnh lễ. Nay phải
đảnh lễ để thỉnh hỏi."
Nghĩ xong, Giới Thắng liền đảnh
lễ đồng tử. Đồng tử ngăn lại, bảo:
- Thầy đang đắp y Như Lai, chớ nên
lễ người thế tục. Hôm nay tôi chỉ cho Thầy cách không vi bội Tam Muội
Da, mà có thể khiến cho tôn giả A Để Sa được trường thọ, ở lại Tây
Tạng luôn. Ngày mai lúc khởi hành, Thầy nên đảnh lễ vị Thượng Tọa
kia, cầu xin từ bi nhiếp niệm, cùng cầu xin Thượng Tọa dùng bàn chân
mà xoa đỉnh đầu, rồi bạch:
- Xin cầu nguyện Thượng Tọa tu hành
an lạc.
Bấy giờ, Thượng Tọa kia quyết sẽ
bảo:
- Như lời của Ta hôm qua, trong ba năm
Ông hãy đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ. Trong thời gian đó, hãy mau học hết
tất cả công đức thiện xảo của Tôn Giả. Nguyện cho Tôn Giả cùng quý
vị đều được bình an, chẳng bịnh hoạn. Lúc trở về Tỳ Trát Ma Thi
La, Ông có thể tiếp tục ở lại mà tu học.
Thượng Tọa kia dạy xong, Thầy hãy
bạch:
- Con kính cẩn y giáo phụng hành,
nhưng có lời xin cáo bạch rằng lúc con thỉnh vấn các bậc sư trưởng
ở Tây Tạng, các ngài cũng có lời dạy bảo như thế thì làm sao con đưa
Tôn Giả trở về Ấn Độ được ? Bấy giờ, hai vị thắng giả phụ tử
(65) nếu hiển hiện điềm lành, và bảo phải nên đưa Tôn Giả trở về
Ấn Độ thì con sẽ đưa Tôn Giả đi. Nếu bảo phải lưu giữ Tôn Giả
ở lại Tây Tạng thì con xin thỉnh Tôn Giả ở lại. Nếu hai vị thắng tử
không thọ ký cho lời gì, con cũng đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ. Việc này
xin Thượng Tọa từ bi mà hứa khả.
Khi ấy, mọi việc sẽ nằm trong tầm
tay của Thầy.
Giới Thắng nghe lời này, nên vui mừng
vô lượng. Sáng hôm sau, Giới Thắng y theo lời chỉ dẫn của đồng tử mà
khải bạch với thượng tọa La Na A Ca La. Thượng Tọa nói:
- Thật đúng như thế ! Này Cụ Thọ
! Phải cầu thỉnh với chư Phật và chư Bồ Tát. Chư Phật và chư Bồ Tát
chẳng điên đảo. Các Ngài nếu hiện điềm lành, và bảo phải đưa Tôn
Giả trở lại Ấn Độ thì phải làm theo. Ngược lại, nếu bảo rằng nên
giữ Tôn Giả lại Tây Tạng thì có thể giữ Tôn Giả. Nếu không thọ ký
thì phải đưa Tôn Giả trở về Ấn Độ. Này Cụ Thọ ! Nếu không có
tôn giả A Để Sa thì Ấn Độ tất sẽ bị ám chướng vì ngoại đạo phá
hoại. Hiện tại, quân Hồi giáo đang xâm chiếm miền tây Ấn Độ; ngôi
nhà Phật pháp sắp chịu bao thảm họa. Việc này làm cho Ta đau lòng khôn
xiết. Cầu nguyện cho Tôn Giả cùng quý vị đều được bình an, chẳng bị
tổn hại khổ não, và thường làm lợi ích cho loài hữu tình (66).
Tôn Giả bèn dạy Giới Thắng rằng
hãy đem vàng mà chia làm bốn phần: 1/ Cúng dường cho các bậc sư trưởng;
2/ Cúng dường cho Kim Cang Tòa; 3/ Cúng dường cho tăng chúng chùa Tỳ Trát
Ma Thi La; 4/ Giao cho quốc vương, cúng dường tất cả tăng chúng trong vương
quốc.
Thượng tọa La Na A Ca La vui vẻ chúc
lành Tôn Giả và Giới Thắng rồi quay trở về chùa.
Tôn Giả cùng hai mươi bốn đồ đệ;
Tinh Tấn Sư Tử cùng hai đồ đệ; Giới Thắng cùng sáu người khác. Trong
số đó, có ngài Địa Tạng (Ksitigarbha, hay Bhumigarbha), vốn là một trong năm
vị đại để tử của Tôn Giả. Vị này là bào huynh của ngài Kim Cang Thủ
(67). Trong quyển Đại Vương Tạng Tăng (tức tiểu sử của các vị quốc
sư) có ghi lại tiểu sử của ngài Địa Tạng. Lại nữa, có ngài Tinh Tấn
Nguyệt (68), vốn là bào đệ của Tôn Giả. Tất cả là ba mươi lăm người.
Tôn Giả cùng đoàn người tiến dần về vùng biên giới Ấn Độ-Ni Bạc
Nhĩ (India-Nepal).
Lúc Tôn Giả và đoàn người đến
chiêm bái chùa Mật Đa La (Mitra), chư tăng trong chùa đều vui mừng, bước
ra cung nghinh. Sau đó, Tôn Giả cùng đoàn người tiến dần đến vùng biên
thùy. Trên đường đi, thấy ba chó con đang nằm run rẩy vì trời lạnh,
Tôn Giả khởi lòng thương xót, mang chúng đi sang Tây Tạng. Theo truyền
thuyết, giống chó đó hiện vẫn còn ở Tây Tạng. Bấy giờ, trên đường
đi, Tôn Giả thuyết phục được rất nhiều luận sư ngoại đạo. Song, có
một số ngoại đạo khác lại oán ghét, mướn mười tám tên cướp đón
đường định hãm hại Tôn Giả. Tôn Giả biết ác tâm của họ, nên dùng
pháp sanh khởi thứ lớp của Độ Mẫu mà trói họ, khiến họ bị tê liệt
đứng yên như tượng đá. Lúc vào nội địa nước Ni Bạc Nhĩ (Nepal), Tôn
Giả tự bảo: "Ác ma ngoại đạo vì có tâm ác, nên tự tổn hại
!"
Lúc gặp các thương gia, Tôn Giả
bèn tụng mật chú vào đá sỏi, rồi đưa cho họ mà bảo:
- Trên đường đi, các ông sẽ gặp
mười tám tên cướp đang bị tê liệt đứng yên như tượng đá. Các ông
hãy dùng các viên đá sỏi nầy rải lên thân hình chúng thì chúng sẽ tỉnh
trở lại. Xin các ông đừng sợ hãi vì Ta đã dùng thần chú để trói
chúng đấy !
Các thương gia y theo lời dạy của
Tôn Giả mà hành. Lúc tỉnh trở lại, bọn cướp hỏi các thương gia:
- Sao chúng tôi lại như thế này ?
Các thương gia đáp:
- Vì các ngươi muốn hãm hại tôn
giả A Để Sa, nên Tôn Giả trói buộc các ngươi lại nơi đây. Nay Tôn Giả
vì lòng từ bi mà giải mở cho các ngươi.
Nghe lời này, bọn cướp rất kinh
hãi rồi bỏ đi. Kế tiếp, Tôn Giả cùng đoàn người tới một vùng sa mạc,
rồi cắm trại trong khu vườn của một người chăn dê để nghỉ qua đêm.
Lúc vào địa phận của nước Ni Bạc
Nhĩ, một tiểu vuơng thấy chiếc giường nhỏ làm bằng gỗ chiên đàn của
Tôn Giả, bèn khởi tâm tham luyến, nên cầu xin. Tôn Giả bảo:
- Đây là giường của người Tây
Tạng mang đi cho Ta.
Tôn Giả chẳng chịu cho chiếc giường
đó. Ngày khác, tiểu vương đó sai thích khách đến chận lấy. Tôn Giả
bèn đọc thần chú, trói buộc chúng, rồi sau này lại thả ra. Lần khác,
lúc đến vùng Hưởng Duyệt ở Ni Bạc Nhĩ, họ gặp sáu người do vua Bồ
Đề Quang sai đến nghinh đón. Nơi tàng cây Đa La, họ cắm trại, dựng lều,
thiết lập một tòa ngồi lớn. Tôn Giả ngồi trên đó; bên phải có người
Tây Tạng ngồi và Tinh Tấn Sư Tử làm thượng thủ; bên trái có chư sư
người Ấn Độ ngồi, và Tinh Tấn Nguyệt làm thượng thủ. Phái đoàn
cung nghinh Tôn Giả từ vùng Nga Nhật đến, dùng toàn chén bát quý báu bằng
vàng ròng chứa sữa và trà để dâng lên cúng dường Tôn Giả. Lúc Tôn Giả
muốn biết gốc tích loại trà vừa uống, thì được Giới Thắng thưa trình:
- Bạch Tôn Giả ! Đây là loại
Trà Thần của Tây Tạng.
Tôn Giả bảo:
- Do công đức của chư tăng Tây Tạng
mà mới có loại trà này.
Nói xong, Tôn Giả viết kệ tán
thán Trà Thần; kệ nầy được lưu truyền trong dân gian cho đến ngày nay.
Phái đoàn do vua Bồ Đề Quang phái
đến lại dâng cúng ngựa trắng quý báu, được trang nghiêm bằng các loại
trân bảo. Họ lại tự cúng dường một cuộn tơ lụa trắng. Tôn Giả đều
vui vẻ tiếp thọ.
Xưa kia, ở Ấn Độ, quốc vương của
toàn vùng Tây Ấn, vốn là một vị đại vương tài trí vẹn toàn, có quyền
thế oai hùng, và là vua của các vì vua. Nhà vua này cũng thường lễ bái
Tôn Giả. Ngoài ra, Tôn Giả cũng được các vì vua ở Nam Ấn như vua Krsna
thường cung kính cúng dường. Thế nên oai đức của Tôn Giả lan truyền
khắp chốn. Vì vậy, khi nghe tin Tôn Giả trên đường từ Ấn Độ sang Tây
Tạng, vua nước Ni Bạc Nhĩ (Nepal) là Vô Biên Xưng (Anantakirti) liền kịp
thời dẫn quan quân đến ngưỡng thỉnh, và cung nghinh Tôn Giả vào vương
cung để cúng dường.
Lúc trước, ngài Tinh Tấn Sư Tử vốn
bị cảm bịnh tại tu viện Na Lan Đà, trước khi theo Tôn Giả lên đường
sang Tây Tạng. Lúc theo đoàn người hộ tống Tôn Giả đến vùng biên giới
Ấn Độ-Ni Bạc Nhĩ, ngài Tinh Tấn Sư Tử lại bị cảm nhiệt nặng. Tại
vương thành Ni Bạc Nhĩ, sau đêm thứ ba Tôn Giả cùng phái đoàn được quốc
vương Vô Biên Xưng cúng dường các phẩm vật và thức ăn trọng thể
xong, Tinh Tấn Sư Tử bạch Tôn Giả và chúng tăng:
- Nay con phải trở về tự tánh giới
của mình.
Nói xong, đêm đó Tinh Tấn Sư Tử
nhuốm bịnh nặng; mọi cách chữa trị đều vô hiệu quả. Vì vậy ngài
Tinh Tấn Sư Tử thị tịch vào giữa đêm khuya đó. Bấy giờ, đoàn người
ai nấy cũng đều buồn bã; Tôn Giả cũng thị hiện ưu sầu mà bảo:
- Nay Ta đến Tây Tạng thật vô
ích (69). Người Tây Tạng thật vô phước vì Tinh Tấn Sư Tử đã sớm thị
tịch (70).
Nghe lời này, Giới Thắng tác bạch
với Tôn Giả:
- Xin Tôn Giả chớ ưu tư vì sự ra
đi của Tinh Tấn Sư Tử. Con sẵn sàng làm người dịch giả cho Tôn Giả.
Vã lại, ở Tây Tạng cũng có vài dịch sư sẵn sàng làm người phiên dịch.
Tôn Giả nói:
- Ông vốn là dịch giả giỏi nhất;
Ta sẽ học nói tiếng Tây Tạng với ông.
Lo sợ quan quân địa phương điều
tra về cái chết của Tinh Tấn Sư Tử thì sẽ làm chậm trễ cuộc hành
trình hộ tống Tôn Giả vào Tây Tạng, nên đoàn người đã âm thầm giữ
kín việc tẩm liệm và mai táng thi thể Tinh Tấn Sư Tử bên cạnh dòng
sông vào đêm khuya. Sáng hôm sau, áo quần và đồ vật của Tinh Tấn Sư Tử
được đặt lên kiệu để chứng tỏ rằng vị này đang lâm bịnh và được
chu cấp thuốc men.
Lần nọ, lúc đến một bình
nguyên, Tôn Giả tặng con voi đang cỡi cho vua nước Ni Bạc Nhĩ (Nepal) là
Vô Biên Xưng rồi bảo:
- Con voi này, nếu Ta tiếp tục cỡi
đến Tây Tạng thì nó sẽ chết. Nay Ta giao nó cho Đại Vương. Nếu Đại
Vương cỡi con voi này thì tất cả oán địch đều tự nhiên tiêu tán. Đại
Vương nên dùng con voi này vào việc chuyên chở kinh kệ, tượng Phật, mà
chớ dùng nó vào những việc khác. Tại nơi đây, Ta muốn kiến lập một
ngôi chùa Tỳ Ha La (Tham vihara). Xin Đại Vương hãy để cho chư tăng Ấn Độ
và Tây Tạng tạm dừng chân nghỉ ngơi nơi ngôi chùa này, và cúng dường
bốn vật cần thiết cho các vị đó.
Nhà vua nghe lời dạy, tâm sanh vui mừng
vô hạn, nên lễ bái Tôn Giả, lại bảo hoàng tử là Liên Hoa Quang
(Padmabhadra), đi theo hầu và làm đệ tử của Tôn Giả. Trên đường đến
Tây Tạng, Liên Hoa Quang là người đệ tử đầu tiên của Tôn Giả. Tôn
Giả liền bảo dịch sư Bảo Hiền dạy chữ Phạn và chỉ bày phương thức
phiên dịch kinh điển sang chữ Tây Tạng cho hoàng tử Liên Hoa Quang. Kế đến,
Liên Hoa Quang lại y theo Giới Thắng học các công đức thiện xảo của Tôn
Giả. Về sau, Liên Hoa Quang làm trụ trì chùa Tỳ Ha La ở Ni Bạc Nhĩ, lấy
danh hiệu là Thiên Vương.
Bấy giờ, Tôn Giả viết thơ gởi
về cho vua Nayapala (1040-55) của vương triều Ba La (Pala) ở Ấn Độ. Lá thơ
đó được dịch sang tiếng Tây Tạng, và hiện còn tồn giữ trong đại tạng
kinh Đơn Châu Nhĩ.
Khi ấy, Tôn Giả gặp lại một
pháp hữu có pháp danh là Lung Thanh Văn (71). Lúc Tôn Giả thuyết pháp Bát
Nhã suốt sáu ngày liền, vị này chợt nghe lại được. Vì vị này chẳng
tín phục Mật pháp, nên Tôn Giả giải thích rằng nếu muốn chứng đắc
quả vị Phật thì phải tu viên mãn Mật pháp và trí huệ Bát Nhã. Để
chuyển hóa tâm vị này, Tôn Giả viết quyển Hành Tập Đăng
(Carya-samgraha-pradipa), và được Giới Thắng dịch sang Tạng văn.
Một năm sau, vua Vô Biên Xưng cùng
cả trăm quần thần đồng nghinh tống Tôn Giả đến vùng biên giới Ni Bạc
Nhĩ-Tây Tạng. Vua Bồ Đề Quang sai bốn đại thần dẫn ba trăm kỵ mã, cỡi
bạch mã đến vùng biên giới để nghinh đón. Họ lại mang tràng phan bảo
cái cùng khởi tấu các loại âm nhạc vi diệu để nghinh đón Tôn Giả. Vừa
đến nơi, các đại thần đồng thanh tán thán công đức của Tôn Giả.
Tôn Giả cũng lấy làm hoan hỷ mà tán thán:
- Chánh pháp thật nương y nơi những
vị đại thần này. Quốc vương Bồ Đề Quang thật cùng Thiên Đế Thích
chẳng khác biệt.
Lần đó, đại thần Thiên Tự Tại
cúng dường cho Tôn Giả một thánh tượng Bồ Tát Quán Âm. Tôn Giả vui mừng,
rồi lập tức làm lễ khai quang, tán thán:
- Quán Âm Tự Tại là vị mà chúng
sanh trong ba đời đều nương theo. Ngài là đấng đại bi tự tánh chẳng cấu
nhiễm, trừ diệt khổ não cho chúng sanh. Nay con cung kính đảnh lễ. Đã đến
thế giới của Ngài, xin nguyện từ bi gia hộ cho con làm việc lợi sanh.
Các đại thần cũng đồng dâng
cúng tơ lụa trắng lên cho Tôn Giả. Bấy giờ, Tôn Giả bảo:
- Nay Ta đến vùng đất này, trong rừng
sanh tử tuy chưa được an lạc, nhưng đã được bốn việc thuận lợi.
Quyến thuộc của quốc vương có được an lạc chăng ?
Các đại thần đều thưa:
- Đại Thiên (72) nay nhờ sự gia hộ
của Tam Bảo mà được siêu thoát. Vua Bồ Đề Quang cùng quyến thuộc đều
được an lạc.
Lúc đến bên hồ Vô Năng Thắng, dân
chúng trong vùng đổ xô ra cúng dường Tôn Giả cả bảy ngày liền. Khi đến
bên hồ nước, Tôn Giả bố thí nước cam lồ. Giới Thắng cũng đi theo, và
thấy trong hồ có một tượng Quán Âm, trên tay có cầm một sợi dây màu
trắng kết thành chữ Lý. Từ chữ đó lưu xuất ra dòng nước cam lồ. Có
vô số ngạ quỷ, vây quanh mà uống nước cam lồ, khiến trừ tất cả nhiệt
não (73).
Lần đó, đại thần Đại Huệ cùng
mười kỵ mã đầu tiên trở về, bẩm tấu vua Bồ Đề Quang:
- Thưa Đại Vương ! Vị Nhất Thiết
Trí (74) lúc đến vùng Ni Bạc Nhĩ, quốc vương đại thần thừa sự cúng
dường, ca ngợi tán thán, nghinh tống đến tận biên thùy. Chúng thần chưa
từng nghe những chuyện như thế vào thời đức Phật còn tại thế. Hoàng
tử của nước Ni Bạc Nhĩ đã xuất gia, hiệu là Thiên Vương. Quốc
vương và hoàng tử cùng cả trăm kỵ mã đồng hộ tống Tôn Giả. Con voi
lớn của Tôn Giả được lưu giữ lại đấy. Quốc vương Ni Bạc Nhĩ còn
cho xây chùa Tỳ Ha La và cung cấp những vật dụng cần thiết cho chư tăng
Tây Tạng và Ấn Độ thường trú. Có ba vị đại đức cao tăng vốn là
quyến thuộc của vị Nhất Thiết Trí. Tổng cộng, có bốn trăm hai mươi
lăm người đi theo nghinh tống. Hiện tại, vị Nhất Thiết Trí đang trú gần
bên hồ Vô Năng Thắng mà làm lợi ích cho loài hữu tình, và chẳng bao
lâu sẽ đến Kim Điện.
Vua Bồ Đề Quang nghe thế, vui mừng
vô hạn, nên sai quần thần vội vã lấy xe ngựa, đến Kim Điện (Tho-lin)
nghiêm tịnh đường lộ, trang nghiêm đạo tràng, cùng ban sắc lịnh cho
quan quân ở bốn phương đồng tụ hợp tất cả dân chúng để nghinh tiếp
Tôn Giả. Dân chúng khắp nơi cho rằng: "Nay vua Bồ Đề Quang ân cần
triệu tập chúng ta đến đây, chắc có việc hy hữu, hãy đến xem sao
!"
Lúc Tôn Giả đến Kim Điện (thuộc
Tây Tạng) vào năm 1042, dân chúng khắp nơi kéo đến chật cả đường phố.
Họ thấy vua nước Ni Bạc Nhĩ như vị trời thứ ba mươi ba. Các vị tam tạng
pháp sư, những bậc đại thiện xảo, vây nhiễu xung quanh Tôn Giả. Đặc
biệt, đi bên phải của Tôn Giả là đại thiện xảo Lợi Tha Hiền, và
đi bên trái là Tinh Tấn Nguyệt. Vua xứ Tang Ca đi ủng hộ đằng sau Tôn
Giả. Có hơn bốn trăm kỵ mã vây nhiễu chung quanh. Tôn Giả ngồi trên lưng
ngựa, tướng hảo trang nghiêm, oai nghi rạng rỡ như vầng thái dương, trên
gương mặt luôn nở nụ cười hoan hỷ, và miệng luôn tụng niệm hồng
danh Phật Thích Ca Mâu Ni, Độ Mẫu. Do oai đức của Tôn Giả, khiến mọi
người ngắm nhìn đức tướng của Tôn Giả mãi không thấy chán. Dẫu
tín căn như thế nào, khi nhìn thấy Tôn Giả liền sanh khởi tín tâm, mà
không cần nghe lời chỉ dạy. Thấy việc hy hữu này, dân chúng đồng tác
bạch:
- Chúng con nay quy y, nương tựa nơi
đức Phật, Bạc Già Phạm, Ấn Độ Pháp Vương, tôn giả A Để Sa, năm
mươi hai vị đại thiện xảo. Xin nguyện từ bi giáo hóa, độ thoát chúng
con, người dân Tây Tạng đầy nghiệp chướng, khiến mau chóng được thành
tựu đạo nghiệp !
VớI niềm hân hoan, Tôn Giả nguyện
cầu:
- Dân chúng Tây Tạng có tâm tín phụng
thâm sâu đối với con, có chủng tánh đại tín. Xin nguyện cầu Tam Bảo từ
bi gia hộ cho con có đủ khả năng để giáo hóa họ.
Nói xong, Tôn Giả bèn làm lễ gia
trì cho dân chúng.
Bấy giờ sư cô Pháp Ức (75) cúng
dường cho Tôn Giả một quả thông làm bằng năm mươi lạng vàng, rồi chấp
tay thưa:
- Xin Tôn Giả từ bi tiếp nạp báu
vật này. Xưa kia, con thấy sư huynh Trí Quang, vì theo pháp thức của các bậc
tiên sư, mà hoằng dương Phật pháp trong đời năm trược ác thế. Sư
huynh Trí Quang lại xả thân mạng và các thọ dụng để hoằng truyền chánh
giáo, nhưng chẳng may bị lọt vào tay của kẻ ác. Nay cung thỉnh Tôn Giả
từ bi trụ mãi ở đất Tây Tạng, để diệt trừ các ác ngoại đạo, ác
tà kiến.
Lại nữa, có hai hoàng tôn của vua
Bồ Đề Quang cung thỉnh Tôn Giả trụ lâu lại Tây Tạng để hoằng
dương Phật pháp, khiến chánh giáo được trường tồn. Tôn Giả an ủi, bảo:
- Này chư thiện nam và tín