-
LƯỢC THUẬT HÀNH TRẠNG
-
Dịch giả: Ni chúng Tự Viện Vĩnh Minh Lâm
Đồng
-
Hiệu đính: Giáo sư. Phạm Phú Thành
-
Đại Đức. Thích Giải Hiền
-
Phật
lịch. 2547 – Dương lịch. 2003
NHÂN DUYÊN IN SÁCH
Chùa Thừa
Thiên Thiền Tự ở Thành Phố Phổ Thành, huyện Đài Bắc cùng với tên tuổi
của Ngài Quảng Khâm từ lâu đã đi vào lòng người Phật tử và trở thành
niềm tự hào của Phật giáo Đài Loan.
Ngài Quảng
Khâm xuất gia tu học tại chùa Thừa Thiên, Tuyền Châu, Phúc Kiến, Trung
Quốc. Sau đó, Ngài đến Đài Loan hoằng pháp và xây dựng chùa Thừa Thiên
Thiền Tự. Ngài được tôn như Quốc Sư của Đài Loan, tổng thống Tưởng Kinh
Quốc mỗi khi gặp việc lớn của quốc gia thường đến cầu thỉnh ý Ngài. Ngài
nổi tiếng về hạnh tu đầu đà, sáu mươi năm Ngài không ăn đồ nấu, tòan ăn
hoa quả và không hề đặt lưng xuống giường thường ngồi thiền tọa. Ngài
viên tịch trong tư thế thiền tọa.
Chùa Thừa
Thiên Thiền Tự cho đến nay vẫn giữ hạnh tu đầu đà, chư tăng ni ở chùa
sống cuộc sống thanh bần, mặc dầu Phật tử và du khách đến chùa rất đông,
nguồn thu nhập rất lớn nhưng cuộc sống đầu đà của chư tăng vẫn không
thay đổi. Sau khi Ngài Quảng Khâm viên tịch đệ tử Ngài là Hòa Thượng
Truyền Hối lên kế thế. Trong thời gian Ngài Truyền Hối kế thế trụ trì
Ngài đã đem số tiền mà thập phương thiện tín cúng dường cho chùa Thừa
Thiên Thiền Tự đi giúp xây dựng các Phật học viện và cơ sở hoằng pháp
khác ở Đài Loan mà đặc biệt là những cơ sở này không phải của Ngài và
không thuộc hệ thống của Thừa Thiên Thiền Tự, chỉ cần nhưng nơi ấy yêu
cầu là Ngài đều sẳn lòng giúp tất cả nguồn tài chánh, điều này giúp
chúng ta thấy được tâm hạnh Bồ tát của Ngài. Trước khi Ngài viên tịch,
Ngài bảo đệ tử tổng kết số tiền mà trong mấy chục năm Ngài làm trụ trì
thập phương Phật tử cúng riêng cho Ngài tất cả được năm trăm triệu Đài
tệ (khoảng hai mươi tỷ đồng Việt Nam) Ngài phân làm năm phần cúng dường
cho bốn cơ sở Phật giáo là: Trường đại học Phật Quang của Ngài Tinh Vân
Phật Quang Sơn, trường đại học Pháp Cổ Sơn của Ngài Thánh Nghiêm, trường
đại học Huyền Trang của Ngài Liểu Trung và công trình hy vọng xây dựng
sáu mươi ngôi trường trung tiểu học do hội Từ Tế của Ni Sư Chứng Nghiêm
đảm trách mỗi đơn vị một trăm triệu Đài tệ, còn lại một trăm triệu Đài
tệ Ngài cúng cho năm tổ chức từ thiện của chính phủ và các tôn giáo khác.
Sau khi Ngài
Truyền Hối viên tịch đệ tử là Thượng Tọa Đạo Cầu lên kế vị trụ trì, vẫn
tuân giữ đạo phong và thanh quy của chùa tiếp tục tu hạnh đầu đà. Mặc
dầu là trụ trì một chùa lớn Thượng Tọa Đạo Cầu vẫn rất giản dị mộc mạc
và Ngài không bao giờ bỏ thời khóa tụng kinh ở chùa, khi tiếp khách dù
là vị khách như thế nào cứ đến 3h45 chiều là Ngài nói với khách hoan hỷ
ra về hay lên chùa làm lễ vì sắp đến giờ Ngài phải đi công phu chiều với
đại chúng rồi. Việc tuân thủ giờ giấc của thời khóa tu tập hằng ngày của
Thượng Tọa trụ trì như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy được đạo phong của
chùa Thừa Thiên Thiền Tự như thế nào.
Trong thời
gian du học ở Đài Loan, tôi được quen Phật tử Triệu Sâm Phát và vợ là Lữ
Tá Trí. Hai vị là hộ pháp của chùa Thừa Thiên Thiền Tự. Mọi giấy tờ nhà
đất của chùa đều do vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát đứng ra giải quyết.
Trong chùa mỗi khi có việc quan trọng đều gọi và giao cho vợ chồng Phật
tử đứng ra lo liệu. Khi Ngài Truyền Hối sắp viên tịch Ngài cho gọi hai
vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát thay Ngài chuyển số tiền của Ngài cúng
dường đến hội Từ Tế nên vợ chồng Phật tử rất được chùa tin cẩn.
Trong một lần
về Việt Nam nghỉ hè và lo trai đàn Chẩn tế ở chùa Linh Ẩn, các chư Ni
của Vĩnh Minh Tự Viện có thưa với tôi việc dịch quyển (Quảng Công Hành
Trạng) và muốn in nhưng không có kinh phí nhờ tôi tìm cách giúp cho quý
vị đạt thành sở nguyện tôi liền nghĩ ngay đến vợ chồng Phật tử Triệu Sâm
Phát và Lữ Tá Trí mà tôi quen, nên nói quý vị viết liền cho tôi ít chữ
để khi xong lễ sang lại Đài Loan tôi sẽ tìm cách giúp quý vị.
Sau khi về
lại Đài Loan tôi đã nhờ Phật tử Triệu Sâm Phát đưa đến chùa Thừa Thiên
Thiền Tự tổng cộng ba lần để đảnh lễ Thượng Tọa Đạo Cầu cùng ban quản
trị của chùa để xin phép cho quý cô được dịch và in quyển sách trên ra
Việt văn, Thượng Tọa Đạo Cầu rất hoan hỷ và xin ban quản trị ủng hộ kinh
phí một trăm năm mươi lăm ngàn Đài tệ để in sách. Được phép và được tiền
rồi tôi cùng thầy Phạm Phú Thành nổ lực sửa bản dịch (theo khả năng của
chúng tôi) để không phụ lòng của Thượng Tọa Đạo Cầu, ban quản trị của
chùa cùng quý Phật tử Triệu Sâm Phát và Lữ Tá Trí đã dốc lòng giúp đỡ.
Nay công việc
in sách sắp đi vào giai đọan cuối. Tôi kính ghi đôi dòng nhân duyên này
để tỏ lòng tri ân cùng chư Tôn đức, quý Phật tử và cần cầu chư Tôn thức
giả chỉ giáo nhiều cho lần tái bản sau.
-
- Đạt lạt,
Vu Lan năm 2003
- Thích Giải Hiền khế thủ
THƯ ỦY QUYỀN
Về việc: Dịch ra Việt văn và Ấn tống sách “Quảng Công Thượng Nhân Sự
Tích”
1.
Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích Giải Hiền cùng quý sư cô (tất cả
5 vị) được tòan quyền phiên dịch “ Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” (phụ
khai thị lục hành trì ngữ lục) do Thừa Thiên Thiền Tự ấn bản ra Việt văn.
2.
Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích Giải Hiền cùng quý sư cô (tất cả
5 vị) ấn tống 5.000 quyển “ Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” bằng Việt
văn. Đồng thời hoan nghênh việc phiên dịch ấn tống lưu truyền sách trên.
3.
Kinh phí ấn tống 5.000 quyển bản Việt văn là 30 Đài tệ/1 cuốn.
Tổng cộng 150.000 Đài tệ (một trăm năm mươi nghìn Đài tệ) do Thừa Thiên
Thiền Tự cúng dường.
-
- Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 91
-
Ngày 28
tháng 10 năm 2002
-
Bên được ủy quyền
Bên lập thư ủy quyền
-
-
Việt Nam Minh Đức Từ Thiện
Phật Giáo Tài Đòan Pháp Nhân
-
-
Sự Nghiệp Cơ Kim Hội
Thừa Thiên Thiền Tự Trụ Trì
-
-
THÍCH GIẢI HIỀN
THÍCH ĐẠO CẦU
-
-
(Đã ký)
(Đã ký và
đóng dấu)
Biên tập
thuyết minh
Vào năm
1997, khi chỉnh lý các bài ghi chép cũ, chúng tôi tìm thấy một số bài
ghi lại lời giảng của Ngài Quảng Khâm tại Pháp Hội tháng 7 năm 1974.
Cùng thời gian này, thấy xuất hiện một phần tư liệu do một vị đệ tử của
Ngài lưu giữ. Hai nhóm tư liệu được đem kết tập thành cuốn “ Quảng Khâm
Thượng Nhân khai thị” (Những lời giảng dạy của Ngài Quảng Khâm). Xét về
thời gian thì phần tư liệu chúng tôi độc thấy sau lại có trước, nhưng
lúc bấy giờ nhân duyên chưa hội đủ để có thể phổ biến đến các vị độc
giả. Nay xin theo thứ tự thời gian đưa phần tư liệu này lên phía trước
của ấn bản đầu tiên, và sách trở thành “ Bản có bổ sung”.
Tập sách viết về cuộc
đời của Ngài Quảng Khâm xuất bản lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1986 sau
khi Ngài viên tịch ít lâu. Tập sách này tập hợp những bài viết về Ngài
được đăng tải trên các báo và tạp chí, lúc đó ấn tống 5000 bản. Sau khi
xuất bản phát hiện thấy nhiều sai sót, nên khi tái bản đã cho đính chính
và sửa chữa những sai sót ấy.
Sau lần xuất bản đầu
tiên chưa đầy vài tháng, độc giả đã nhanh chóng thỉnh hết; vì vậy vào
tháng 9 năm đó sách lạI được tái bản 5000 cuốn. Lần đầu và lần thứ hai
xuất bản, sách đều gồm 32 bài viết; lần thứ ba sửa còn 25 bài. Nội dung
và văn chương của lần xuất bản đầu và lần thứ hai hòan tòan giống nhau;
nhưng lần thứ hai, ngòai việc sửa chữa một số sai sót của lần đầu, các
bài viết còn được sắp xếp theo thứ tự thời gian; đến lần xuất bản thứ ba
mới thêm vào phần đối thọai giữa Hòa Thượng Quảng Khâm và Hòang Thượng
Tuyên Hóa, và thiên cuốn sách nói về “ Những điều linh hiển”.
Về những hình ảnh tư
liệu, có thêm ảnh chụp điện Tam Thánh của chùa Thừa Thiên trước khi
trùng tu và ảnh nhà kỷ niệm Ngài Quảng Khâm. Lại có các ảnh cũ về đời
sống sinh họat của Ngài, cùng với một số hình ảnh hai ngày trước khi
Ngài viên tịch.
Tháng 2 năm 1992, sách
lại thêm bài “ Niệm Nam - Mô – A – Di - Phập, tức là Tổng tụng”.
Tập sách viết về hành
trạng (tiểu sử) này đã được xuất bản 3 lần, mỗi lần ấn tống 5000 cuốn,
đều được độc giả thỉnh hết.
Đến lần xuất bản thứ
tư này, có người đề nghị nên có lời giải thích về những điều sửa đổi của
ba lần trước cho độc giả hiểu nhưng vì lúc đó công việc ở chùa quá bận
rộn nên không kịp cải chính.
Do vậy mà nay chúng
tôi đặc biệt xin có đôi lời thuyết minh giải bày ở đây.
Ban biên tập cẩn chí
MỤC LỤC
Nhân duyên in sách
Thư ủy quyền (bản tiếng Hoa)
Thư ủy quyền (bản tiếng Việt)
Biên tập thuyết minh
1.
Lược thuật Hành trạng Hòa thượng
Quảng Khâm
.................................... Lâm Giác
Phi
2.
Những lời
khai thị của Hòa thượng Quảng Khâm......................................
Lâm Giác Phi
3.
Tôi có
nhân duyên với Hòa thượng Quảng Khâm
...................................... Lâm
Giác Phi
4.
Một
đọan nhân duyên giữa tôi và Bồ Tát Quảng Khâm.............................
Chu Tuyên Đức
5.
Đối thọai giữa Ngài Quảng Khâm và Pháp sư Tuyên Hóa........................
Giang Khải Siêu
6.
Bái kiến và phỏng vấn Hòa thượng
Quảng Khâm......................................
Chương Khắc Phạm
7.
“Pháp
sư trái cây” không nơi nào không tự tại...........................................
Vân Lâm
8.
Hòa thượng
Quảng Khâm niệm Phật tam - muội........................................
Vân Lâm
9.
Hồi ký về Hòa thượng
Quảng Khâm...........................................................
Chương Khắc Phạm
10.
Hòa thượng Quảng
Khâm đã nói như vầy…...............................................
Chương Khắc Phạm
11.
Hòa thượng khai đàn
truyền giới, Đại chúng nao nức vui mừng....................
Hùynh Kiến Hưng
12.
Ngọn đèn mãi mãi chiếu
sáng.......................................................................
Xã luận của Tuần san TỪ ÂN
13.
Tưởng niệm các bậc
Thiện tri thức Cảm thán Hòa thượng Quảng Khâm Niết bàn........ Thích
Khai Chứng
14.
TÁN
(xứng vào lức cử hành đại lễ )............................................................
Niệm Nam – mô A – Di – Đà Phật là
“Tổng tụng”......................................................................................
Quách Huệ Trân
15.
THẦN DỊ THIÊN: Pháp thân Hòa thượng
Quảng Khâm thị hiện linh hiển....................................
Phùng Phùng
17.
Xá - lợI linh
thiêng của Hòa thượng Quảng Khâm.....................................
Đại Hoang
*** Chú thích các hình ảnh tư liệu ***
Lược thuật
HÀNH TRẠNG
HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Hòa thượng
sinh ngày 26 tháng 10, năm Quang Tự thứ 18, cuối đời Nhà Thanh. Ngài là
con gia đình họ Hoàng ở huyện Huệ An, tỉnh Phúc Kiến. Năm lên bốn tuổi,
vì gia đình nghèo khó, anh của Ngài không có tiền cưới vợ, cha mẹ đem
Ngài bán cho một gia đình họ Lý ở ngoại thành phía Nam thuộc huyện Tấn
Giang để làm con nuôi.
Cha nuôi ngài
tên Lý Thọ, mẹ nuôi tên Lâm Thái. Từ thuở nhỏ Ngài yếu đuối và nhiều
bệnh tật, nhưng huệ căn đầy đủ, theo mẹ tin phật, ăn chay.
Khi Ngài vừa
lớn lên cha mẹ nuôi lần lượt qua đời để lại ruộng vườn, bà con rắp tâm
chiếm đoạt. Ngài cảm nhận sâu sắc cuộc đời là vô thường khởi tâm xuất
gia, đem ruộng đất chia cho bà con, rồi đến xin vào tu trong chùa Thừa
Thiên ở Tuyền Châu.
Vị trụ trì chùa Thừa
Thiên là Hòa Thượng thượng Chuyển hạ Trần bảo Ngài quy y khổ hạnh với
Pháp sư thượng Thụy hạ Phương. Pháp sư giao Ngài làm các công việc bên
ngoài như : nhổ cỏ, trồng rau… Sau đó, do nhân duyên đặc biệt Ngài có
đến Nam Dương ( Inđonêxia) ở nhiều năm. Khi trở về chùa Thừa Thiên Ngài
đã 36 tuổi, lúc bấy giờ mới được Pháp sư thượng Thụy hạ Phương xuống tóc,
đặt Pháp danh là Chiếu Kính, tự là Quảng Khâm.
Sau khi xuất gia, Ngài
tâm tu khổ hạnh, ăn những món mà người khó ăn, làm những việc người khó
làm, thường ngồi không nằm, nhất tâm niệm Phật. Năm 1933, Ngài đến chùa
Từ Thọ Thiền Tự ở Nang Sơn, huyện Bồ Điền yết kiến Hòa thượng Diệu Nghĩa
để cầu giới, lúc ấy Ngài đã 42 tuổi. Sau khi thọ giới trở về, Ngài quyết
chí tinh tấn ẩn tu. Được sự đồng ý của Hòa Thượng thượng Chuyển hạ Trần,
Ngài chỉ mang theo áo quần, vật dụng đơn sơ và hơn 10 cân gạo ( một cân
= 600gam ) đến núi Thanh Nguyên phía Bắc thành Tuyền Châu, tìm một động
đá giữa sườn núi làm chỗ trú thân, ở trong động tọa thiền niệm Phật. Khi
lương thực mang theo cạn hết, Ngài ăn củ rễ cây và trái rừng cho đỡ đói.
Trong núi có nhiều cọp và khỉ, lâu ngày người và thú sống với nhau không
còn sợ sệt, lại có vượn khỉ dâng trái cây, cọp dữ đến quy y. Từ đó mỹ
hiệu “Phục hổ sư” ( Thầy hàng phục cọp ) lan truyền khắp nơi.
Ngài thường nhập định có
khi đến vài tháng không ăn, không cử động, thậm chí hơi thở cũng không
còn. Mọi người lầm tưởng Ngài đã viên tịch, nhiều lần xin hòa thượng trù
trì chuẩn bị hỏa táng Ngài.
Lúc bấy giờ Ngài Hoằng
Nhất Đại Sư – một vị cao tăng Luật tông – ở chùa Phổ Tuế huyện Vĩnh Xuân,
nghe tin vội vàng đến chùa Thừa Thiên, rồi cùng với Đại lão Hòa thượng
thượng hạ Chuyển hạ Trần và vài người nữa lên núi xem xét, đến nơi mới
biết Ngài còn ở trong Định, mọi người vô cùng tán thán. Đại sư Hoằng
Nhất búng ngón tay ba lần thỉnh Ngài xuất định.
Ngày tháng trôi mau, thấm
thoát đã 13 năm. Vào năm Aát Dậu (1945), Ngài xuống núi trở về chùaThừa
Thiên; mùa thu năm sau Ngài đến Nam Phổ Đà – Hạ Môn, vào ở trong động đá
núi phía sau để ngày đêm lễ Phật. Năm Đinh Hợi (1947) Ngài 56 tuổi, ngày
rằm tháng sáu, Ngài từ Hạ Môn lên tàu Anh vượt biển sang Đài Loan, trưa
ngày 16 cập bến Cơ Long.
Lúc đầu Ngài ở tạm trong
các chùa Cực Lạc, Linh Tuyền, Tối Thắng, đầu tháng 7 dời sang động núi
Chi Sơn ở Đài Bắc. Sau Trung Thu Ngài lại đến tạm trú trong một ngôi nhà
trống xây theo kiểu Nhật Bản nằm giữa sườn núi bờ nam thuộc Điếu Kiều –
Tân Điếm. Lúc bấy giờ Ngài cũng thường lui tới chùa Pháp Hoa – Đài Bắc,
nơi Ngài đã siêu độ hồn ma người Nhật. Mùa xuân năm Mậu tý (1948) Ngài
khoét một động đá nơi vách núi phía sau đường Tân Điếm và gọi nó là hang
núi Quảng Minh (chùa Quảng Minh ngày nay). Đến năm Tân Mão (1951) Ngài
tạc tượng Phật A-Di-Đà lớn trên vách đá phía bên phải động, mở đầu cho
phong cách tạc tượng Phật trên đá, ở Đài Loan.
Tháng 11 cùng năm (1951),
nghe nói có động cổ thiên nhiên trên núi Thành Phước nằm giữa Thổ Thành
và Tam Hiệp, Ngày liền dẫn bốn đệ tử, bám dây rừng leo lên. Quả nhiên
gặp một thạch động rất lớn, cao hơn hai trượng, rộng vài trượng, sậu
khoảng hai trượng. Ngài ở một mình trong động ngay đêm ấy. Động quay về
hướng đông, mặt trời mặt trăng khi mới mọc đều chiếu ánh sáng vào động,
do vậy Ngài đặt tên là động Nhật Nguyệt. Trên đỉnh động có dòng suối,
nước rất trong, uống vào thấy ngọt ngào, tinh thần sảng khoái.
Từ đó Ngài trở lại cuộc
sống ẩn cư.
Tháng 5 năm sau (1952),
Ngài cất thêm ba gian nhà ván, bên ngoài động thờ tượng Bồ-Tát Địa Tạng.
Ngài ở đó được 3 năm, đồng thời lại cất thêm một gian nhà tranh trên
đỉnh động để độ đệ tử cùng tu. Tháng 2 năm 1953, Ngài lại lên đỉnh núi
cất một am nhỏ trước một tảng đá lớn để ở.
Tháng 3 năm Aát Mùi
(1955), Phật tử ở Bản Kiều mua vùng đất núi Hỏa Sơn ở Thổ Thành huyện
Đài Bắc cúng cho Ngài. Nay chính là chùa Thừa Thiên núi Thanh Nguyên,
Thành Phố Thổ Thành, huyện Đài Bắc – Đài Loan).
Vùng đất này, trước kia
vốn là rừng tre ít người lui tới. Ngài cùng đệ tử đốn tre làm giường,
trải cỏ mịn lên trên để ngồi thiền. Ngài nói với các đệ tử: “Thầy ngồi
đây rất tốt, các con về được rồi”. Đến giữa tháng 5 năm ấy, Ngày xây một
gian nhà ngói để thờ Phật. Năm sau Ngài trở về chùa Quảng Chiếu ở Tân
Điếm.
Cuối năm 1958 (năm Mậu
Tuất), Ngài trở về Hỏa Sơn, năm sau (năm Kỷ Hợi) lại cất thêm vài gian
nhà tranh. Đến tháng 4 năm 1960 (năm Canh Tý) mới xây dựng Đại Hùng Bảo
Điện để nhớ về Tổ đình ( ở Trung Quốc) Ngài đặt tên là Thừa Thiên Thiền
Tự. Núi Hỏa Sơn thì gọi là núi Thanh Nguyên. Năm 1962 Ngài xây dựng Điện
Tam Thánh.
Năm 1963 (Năm Quý Mão),
Ngài 72 tuổi, thể theo lời của Phật tử, Ngài đến Thiên Tường – Hoa Liên
ở vài tháng giúp xây chùa Tường Đức ( nay là tháp Thiên phong, tức là am
tranh mà Ngài ngồi thiền xưa kia). Sau lại chấp nhận lời thỉnh cầu của
những đệ tử ở miền trung thỉnh Ngài đến Nam Liêu núi Long Tỉnh-Đài Trung
sáng lập chùa Quảng Long. Năm 1964 ( năm Giáp Thìn) Ngài trở về chùa
Thừa Thiên ở Thổ Thành, cuối năm đó Ngài dựng cổng chùa, sửa lều tranh
lại thành phương trượng xây bằng bê-tông, kế tiếp vào tháng 9 năm 1965
xây trai đường và nhà trù… Chùa Thừa Thiên, bước đầu kể như được hoàn
tất.
Ban đầu chùa Thừa Thiên
làm bằng gạch ngói, nhưng xây cất vội vàng cho xong, lâu ngày nền đất
lún xuống, tường vách bị nứt nẻ, do vậy mà vào mùa xuân năm 1976 bắt đầu
xây cất lại. Đầu tiên liêu phòng của chúng nữ trước điện Tam Thánh được
xây lại thành lầu hai tầng bằng bê-tông cốt sắt. Mùa thu năm sau, mở núi
ban đất, tháo dở các công trình xây dựng cũ: điện Tam Thánh, trai đường,
nhà bếp, Đại Hùng Bảo Điện, liêu phòng chúng nam và phương trượng. Mùa
xuân năm 1978, trên nền Đại Hùng Bảo Điện cũ xây điện Tam Thánh và liêu
pjòng hai tầng, rồi dựa theo thế đất núi xây Tổ Đường; chỗ trai đường cũ
cất lại trai đường hai tầng và nhả bếp. Năm 1983, đặt móng Lầu Đại Bi
bên triền núi phải, hiện nay cấu trúc Lầu Đại Bi sắp hoàn thành.
Năm 1969 Ngày lại xây
dựng chùađộng Quảng Thừa ở bên phải phía sau nhà hành chánh thị trấn Thổ
Thành.
Năm 1978, tại nơi đây xây
tháp Hoa Tạng, kế đến là Đại Hùng Bảo Điện, hai dãy thiền phòng, tầng
hầm dưới mặt đất, tàng kinh các, điện La Hán, giảng đường, thiền phòng
trên và dưới lầu lần lượt được hoàn thành. Sau lại lợp lại Điện Địa Tạng
hoàn thành mới như ngày nay. Công trình thi công kiến trúc chùa động
Quảng Thừa do Pháp sư Truyền Bân chủ trì.
Tháng 9 năm 1982, Ngài
phái người đệ tử từng theo Ngài trên dưới 10 năm là pháp sư Truyền Văn
đến thôn Bảo Lai, hương Lục Quy – huyện Cao Hùng xây dựng chùa Diệu
Thông. Đến nay Đại Hùng Bảo Điện, Ngũ Quán đường, Niệm phật đường, liêu
phòng chúng nữ đều đã cất xong. “Linh sơn bảo tháp” sau này thờ linh cốt
Ngài cũng đang bắt đầu thi công. Tháng 7 năm 1984 Ngài đến chùa này,
sang tháng 10 năm 1985 mở Đại Giới Đàn, giới tử khắp nơi quy tụ về rất
đông, trên mấy ngàn người; đồng thời Ngài mở Pháp Hội “Thủy Lục” phổ độ
chúng sanh, trang nghiêm chưa từng thấy.
Ngài có nếp sống mộc mạc,
bình dị, khiêm cung hòa ái, tuy đã gần trăm tuổi mà đi không dùng gậy,
không cần người dìu đỡ, thân thể dẹ dàng rắn chắc. Ngài thường ngồi mà
không nằm, có khi ngồi ngoài thất, giữa trời hoặc dưới mái hiên. Từ năm
78 tuổi Ngài đổi dùng thức ăn lỏng.
Cuối năm 1985, Ngài lấy
lý do, trong coi công việc xây lầu Đại Bi chùa Thừa Thiên nên Ngài muốn
trở về Đài Bắc. Ngày 25 Tháng 12 âm lịch, pháp sư Truyền Hối xuống miền
Nam. Ngày 26 thỉnh Ngày về chùa Thừa Thiên. Các phật tử miền Bắc nghe
tin, từng đoàn đến thăm viếng Ngài.
Sáng sớm mồng một Tết,
Ngài triệu tập các đệ tử có trọng trách ở các phân viện cùng đại chúng
chùa Thừa Thiên đến để dặn dò cẩn thận, đồng thời nói về việc hỏa táng
sau khi Ngài viên tịch: linh cốt sẻ chia làm ba phần, để tại các chùa
Thừa Thiên, chùa Diệu Thông và chùa động Quảng Thừa. Cơm sáng xong, Ngài
tỏ ý muốn trở về chùa Diệu Thông, đại chúng thấy ý Ngài đã quyết không
dám giữ lại, liền đó đưa Ngài về miền Nam.
Về đến chùa Diệu Thông,
Ngài niệm Phật liên tục cả đêm lẫn ngày, có khi tự gõ mõ và dạy đệ tử
cùng niệm. Đến ngày mùng 5, mắt Ngày trong sáng, định tĩnh an tường,
không có vẻ gì khác lạ. Khoảng hai giờ chiều, bất chợt Ngài nói với đại
chúng : “ không đến cũng không đi, chẳng có việc gì”. Ngài quay sang các
đệ tử, gật đầu mĩm cười rồi an tọa nhắm mắt. Một lát sau mọi người thấy
Ngài bất động, đến xem kỹ mới hay Ngài đã an lành viên tịch trong tiếng
niệm Phật của đại chúng.
Cả một đời Ngài
ẩn tu khổ hạnh, an bần lạc đạo, ý chí kiên cường, tâm hồn chất phác, trí
tuệ khai thông, cuối cùng Ngài đã giác ngộ hoàn toàn. Khi đến Đài Loan,
Ngài rộng độ cả hai cõi âm dương, cầm thú quy phục, an vui với thiền,
không dùng thức ăn nấu chín. Trãi qua nữa đời người, Ngài là bậc mô phạm
thể hiện công đức tu hành, thực hành đúng khuôn mẫu của những bậc tu khổ
hạnh đầu đà, thật đáng tán tụng như các bậc Cổ Đức. Tiếc rằng chúng sanh
phước mỏng nghiệp dày, chưa được hưởng những lời dạy dỗ của Ngài mà Ngài
đã ra đi. Biết bao nhiêu người đốt hương khấn nguyện cầu mong Ngài không
xả ly bi nguyện, trở lại lèo lái thuyền từ, rộng độ quần mê, đưa chúng
sanh sang bờ giải thoát, đồng thành tựu Chánh Giác.
-
-
Quảng Khâm Lão Hòa
Thượng Viên Tịch Tán Tụng Ủy Viên Hội
-
(Ban
tang lễ, lễ tang Đại Lão Hòa Thượng thượng Quảng hạ Khâm)
********
Trung Hoa Dân Quốc năm 1975, ngày 28 tháng 2
Hòa Thượng trụ tại chùa Thừa Thiên Thiền Tự từ tháng ba năm 1955 đến
tháng bảy năm 1984 thì về ở tại chùa Diệu Thông tổng cộng hơn 30 năm.
Mùa xuân năm 1984 chùa Diệu Thông bắt đầu được xây dựng, sau khi dự Pháp
Hội Đại Bi tháng 2 âm lịch xong, trước khi đi Ngài cho biết cứ mỗi tháng
vào dịp Pháp Hội Đại Bi Ngài sẽ trở về. Như thế là mỗi tháng Ngài đều
chấn tích giữa hai miền Bắc Nam Đài Bắc và Cao Hùng. Đến kỳ Pháp Hội Đại
Bi tháng năm, khi Ngài trở về gặp lúc miền Bắc Đài Loan bị nạn lụt “Ngày
03 tháng 6” rất lớn đường lên chùa Thừa Thiên ngập nước đến hông, xe cộ
không lưu thông được, tín chúng tham gia Pháp hội Đại Bi chỉ có sáu bảy
người; từ đó v? sau Pháp Hội Đại Bi chùa Thừa Thiên Ngài không về dự nữa.
Tháng bảy âm lịch năm ấy, chùa Thừa Thiên lần đầu tổ chức Pháp Hội Địa
Tạng, Ngài lại trở về núi Thanh Nguyên, nhưng chưa kịp đợi đến ngày Pháp
Hội hoàn mãn thì vào trung tuần tháng ấy Ngài lại phải trở về chùa Diệu
Thông. Cho mãi đến tháng 10, nhân dịp Sinh nhật 93 tuổi của Ngài, Ngài
lại trở về chùa Thừa Thiên dự Lễ Chúc Thọ, trong tuần Phật thất chúc thọ
Ngài tuyên bố với chúng đệ tử rằng năm tới địa điểm tổ chức truyền giới
dời về chùa Diệu Thông.
( Phụ lục về của ban biên tập)
NHỮNG LỜI KHAI
THỊ CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Ngày 6 tháng 2 năm 1973, khi đến viếng chùa Đại Tiên, chúng tôi ghi lại
cuộc pháp đàm giữa Hoà thượng Quảng Khâm [ lời in chữ nghiêng ] và Hoà
thượng Khai Sâm .
Hoà thượng Khai Sâm :
“ Thiện sanh thọ hạ văn thuỷ âm
Cổ kim thắng cảnh hiện mục tiền
Đắc ý vong ưu vô giá bảo
Bổn trân phi Phật diệt phi Tâm”
Tạm dịch ý :
“ Lành thay sống chốn lâm tuyền,
Suối reo thông gọi cõi thiền là đây.
Cổ kim thắng cảnh nơi này,
Hiện ra trước mắt vẻ đầy thiên nhiên.
Bảo vật vô giá hiện tiền,
Thoả lòng vứt bỏ ưu phiền nơi đây.
Bảo vật vốn chẳng phơi bày,
Chẳng tâm chẳng Phật, vật này vốn không ”.
Hoà thượng Quảng Khâm :
-
Không cần tiền mới có tiền
-
Làm người không nhiễm trần.
-
Ăn, mặc, ở phải buông bỏ mới thoát ly sanh tử.
-
Ý khởi là sanh tử,
Tha hương gặp cố nhân.
Đa tạ Pháp sư lời vàng tiếng ngọc.
-
Hoan hỷ khổ hạnh.
-
Hoan hỷ lạc hạnh. Mặc cho nó đi, mặc tình nó đến . . .
Thân tâm đều xuất gia, thân xuất gia tâm không xuất gia, thân không xuất
gia tâm xuất gia.
Ngồi trên đá nói Pháp
Hoà thượng Khai Sâm:
-
Cây nào vỏ cũng màu xanh,
Đơm bông kết trái hai cái phân biệt rõ .
Ba bước thiền sư có thể độ Sư .
Minh tâm kiến tánh, không sát sanh tức thái bình
Tu lợi, tu lợi ; tu không cầu lợi mới thoát sanh tử
Cơm nhạt trong bụng no, mọi việc đều tùy duyên .
Sư Tâm Giác hỏi :
-
Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn “ phi huyễn . . . diệc phi . . .”
Sư phụ đáp :
-
Sáu căn phân biệt, liền có sanh tử, phàm cái gì có tiếp xúc sáu căn thì
có sanh diệt, trở thành đời ác ngũ trược.
-
Phân biệt tức là giặc, đúng hay không ?
-
Đúng hay không đúng cũng là phân biệt.
-
“ Lấy giặc đánh giặc”, trong Chỉ nguyệt lục có ghi công án :
Một vị tăng hỏi Triệu Châu ‘ con chó có Phật
tánh chăng ?’
- Có hay không cũng không đúng, vì khởi vô minh. Nếu không vô minh
thì hai người đều đúng, cũng đều không đúng.
-
Buổi sáng Triệu Châu đáp KHÔNG để phá chấp CÓ của Tăng.
Buổi chiều Triệu Châu đáp CÓ để phá chấp KHÔNG của Tăng .
Pháp sư Sâm Nghĩa, người quốc tịch Úc hỏi :
-
Sư phụ từ đâu đến ?
Sư phụ đáp :
-
Từ không chỗ trụ mà đến.
Pháp sư nghe, lấy làm thú vị nói rằng :
“ Ấy là ngôn ngữ của bậc kiến tánh”.
Sư phụ hỏi :
-
Hôm nay ông đến đây, vậy ông đến hay là ai đến ?
-
Con đến.
-
Vậy lại có một cái “ ta ” đến, cũng chưa đúng. Có một tướng tới lui thì
có sanh diệt, đều là huyễn hoá. Bản tánh không đến không đi không sanh
không diệt, không mình không người. Nói không cần suy nghĩ, chuẩn bị;
khi có người hỏi thì lập tức trả lời, thế mới là không có đến có đi
. Chúng ta nói chuyện phải qua suy nghĩ, vậy là có đến có đi, Phậït Pháp
không thể nghĩ bàn, không thể dùng miệng mà nói được
Pháp sư nói :
-
Xin sư phụ chỉ dạy cho con phương pháp tu hành.
Sư phụ :
-
Thọ giới là thọ nhẫn nhục, tai nghe người khác mắng ông, kích bác ông,
mà ông không quan tâm đến những điều đó thì gọi là giới
-
Tu hành rất khó, giữ được hạnh nhẫn nhục lại còn khó hơn; như nhẫn một
tuần, hai tuần, một tháng cho đến một năm, ba năm thì dễ. Nhưng nhẫn cả
đời thì không phải là việc giản đơn.
- Vô minh của người xuất gia như lửa, vô minh của người tại gia như
khói
Có vị pháp sư nói :
-
Căn phòng đóng kín của tôi rất nhỏ, không khí không được tốt.
-
Nếu đóng kín tâm thì thân này tạm dùng được, còn như đóng kín thân thì
điều đó thường xảy ra.
Pháp sư :
-
Ban-chu tam-muội là một trong bốn loại tam muội mà Đại sư Trí Giả gọi
là Trường hành tam-muội; pháp môn Sư phụ đang hành trì là Trường tọa
tam-muội .
Sư phụ nói :
-
Tôi không biết tôi đang làm gì, nếu ông không nói thì tôi cũng không
biết . Vậy
đừng nói tôi đang làm gì .
Năm 1974 . Có một nữ cư sĩ hỏi rằng :
-
Con học Phật pháp ba năm sao không hiểu gì hết, chỉ biết niệm Nam-mô A-Di-Đà
Phật. Có người nói Phật, Ma chỉ khác nhau một chút, không biết hiểu như
thế nào mới đúng ?
Sư phụ đáp :
-
Phật, Ma đều do chúng ta vọng tưởng mà có, chánh niệm tức là Phật, tà
niệm tức là Ma .
-
Con học Phật chỉ mới ba năm, không biết gì cả, chỉ biết niệm Phật, phần
lớn thời gian đều ở trên núi, chỉ có 2 - 3 tháng là ở nhà; con ở trên
núi niệm Phật, có một thứ linh cảm, ấy là nếu nhà con xảy ra việc gì con
đều biết ngay.
-
Như vậy là con không có chánh niệm, tưởng nhớ đến việc nhà nên niệm Phật
không chuyên nhất, có tạp niệm thì không có chánh niệm. Con vừa nói muốn
học Phật, mà học Phật thì tư tưởng của thế gian phải vứt bỏ.
Sư phụ dạy :
*** Lịch sử và văn hoá Trung Quốc có giáo dục lễ, nghĩa; có Phật
pháp Đại thừa và Tiểu thừa , nhưng mà người không có lễ nghĩa thì học
Phật tương đối khó . Từ xưa Trung Quốc đã có lễ,
nghĩa, trung, hiếu . Thuận với đạo lý mà làm, thì xã hội ổn định, quốc
thái dân an. Thế giới
ngày nay muôn màu muôn vẻ, muốn có được thân ngươi không phải dễ. Nếu
không biết lễ, nghĩa, trung, hiếu thì dù có làm bác sĩ, cũng khó cứu
được người. Bác sĩ chỉ học về sắc tướng; những gì có sanh có diệt thường
chỉ gây nguy hại chứ không cứu được người; mắt cho thấy có sanh ắt có
diệt. Các bậc thánh hiền xưa có lễ nghĩa, tuân theo quy cũ, làm cho thế
giới thái bình, mới có thể cứu đựơc người.
*** Vô minh của chúng ta giống như đám mây, có lúc che ánh sáng mặt
trời. Phàm mọi sự muốn đạt được đến chỗ rốt ráo, thì bắt đầu là phải dứt
vô minh; không dấy lên ngọn lửa vô minh, không sanh phiền não, không đố
kỵ người. Nếu như có tâm đố kỵ thì sẽ đoạ vào ba đừơng ác, kiếp sau
không biết có được trở lại làm người hay không ? Cho nên mới nói : “
Thân người khó có, Phật pháp khó được nghe, chánh pháp khó gặp ”.
*** Trong tâm chứa đầy đủ tất cả, cần dùng liền có, không dùng thì
không có, ấy gọi là “ không tức là sắc, sắc tức là không ”.
*** Ăn thịt chúng sanh tức là ăn thịt chính mình, giết người tức là tự
giết mình. Nói điều phải trái của người tức là điều phải trái của mình;
nói Người khác xấu tức là chính mình xấu.
Việc của Người xuất gia chúng ta, không nên nói cho người tại gia
nghe. Mỗi đạo tràng đều có một vị La Hán. Ta phê bình người khác, chẳng
phải là động đến các vị La hán đó sao ?
Mặc ai có đúc tượng Phật cao bao nhiêu, hay làm hàng vạn tượng Phật
đi nữa, các vị chỉ nên lo niệm Phật, tu khổ hạnh, ăn mặc đạm bạc thô sơ
thì tự nhiên có người đến cúng dường, so với người xây đắp tượng Phật,
công đức vẫn hơn.
*** Phải khổ hạnh mới đạt đến trí tuệ và Phật báo, phứơc báo .
Phứơc báo là khi người nhìn mình, họ liền phát sinh lòng vui mừng, tâm
cung kính. Phước báo là được Người cúng dường, nhưng mình phải quý
phước, không nên xa xỉ. Mặc dầu có phước báo nhưng cần phải chừng mực,
tốt hơn nên đem phước ấy ban bố cho người khác, không nên ôm giữ riêng
cho mình .
*** Tự mình tinh tấn mà không hay biết, cần thuận theo tự nhiên không
nên chấp trước – chấp rằng phải ra sức dụng công
*** Phật pháp không lìa thế gian pháp, tức là muốn cứu độ Người cần phải
đề cập đến những liên hệ nhân quả trong xã hội ; phải tiếp xúc với xã
hội. Còn thế gian cũng không lìa Phật pháp, nghĩa là mọi sự mọi việc
trong xã hội phải dựa vào Phật pháp mới có thể đề cao cái thiện và tiêu
trừ cái ác .
Có Người hỏi Sư phụ
-
Vì sao con không muốn ngủ nhiều mà chẳng có cách gì để đối trị.
Sư phụ đáp :
-
Vì con người có vô số tham dục, chẳng hạn miệng thích ăn, ăn no thì ưa
ngủ. Mũi thích ngửi mùi thơm, mà hương thơm thì làm cho tâm tán loạn.
Tai ưa nghe nên sinh ưa thích, ưa thích mà phải xa lìa thì khổ. Mắt ưa
nhìn tâm động, tâm động thì bị “ nhập tâm ”
Có Người ngoại đạo phát biểu :
-
Tôi muốn tu cho đến sống mãi không già .
Sư phụ nói :
-
Thân xác tôi không có chỗ gởi vào, nhưng tâm linh tôi thì có nơi để đến.
Ngày nào đó, tâm linh sẽ lìa cái thân giả tạm này.
Tôi đã chuẩn bị cho cái thân, thì tâm linh tôi có chỗ để đến .
Ấy là : thân xác trở về tứ đại, tâm linh đến Tây phương .
Ngoại đạo nói :
-
Tâm linh của tôi ở trong vạn vật vũ trụ .
-
Tâm linh mà gởi trong vạn vật vũ trụ thì thật là nguy, vì phải thay hình
đổi dạng và luân chuyển trong bốn loài chúng sinh. Mắt cho thấy, có sanh
phải có diệt, vạn vật trong vũ trụ đều bị huỷ hoại. Dù cho thân thể này
tồn tại hai ngàn năm đi nữa, cũng giống như tảng đá kia, vẫn bị huỷ hoại
mà thôi.
-
Ngày 14 - 01 – 1974
Sư phụ nói :
-
Độ chúng sanh không chỉ dùng lời nói, mà phải tu đạt đến chỗ vô hình
trung cảm hoá được
người, chứ không phải “ lấy cái gì đó ” để hoằng pháp .
Pháp sư Độ Luân :
-
Đúng vậy, dùng pháp vô vị, không dạy bằng lời. Hiện nay tôi muốn làm
việc gì thì tôi cũng có thể làm được, thí dụ : tôi muốn chỗ tôi đang ở
là thành phố SanFrancisco không bị động đất, thì không bị động đất,
không phải là đất không động, mà do tôi khiến cho đất không động. Trước
kia tôi ở Hồng Kông, có trận cuồng phong sắp thổi đến, tôi làm cho nó
thổi ở ngoài khơi, cách 20 dặm Anh. Khi tôi còn là sa-di có quỉ, thần,
rồng, hồ ly đến quy y. Bây giờ tôi có một số đệ tử người Mỹ, dù cho tôi
đánh họ, mắng họ, họ cũng không bỏ tôi mà đi.
-
Tu hành phải tu tới chỗ nói được thì làm được, nói như thế nào thì phải
làm như thế ấy. Còn phần tôi, tôi không nói là tôi đang làm gì cả, người
ta thấy tôi hoặc nghe tôi nói một vài câu, họ cảm động; sau khi tôi đến
Đài Loan, Đài Loan cũng tương đối được an ổn.
-
Đó là đức hạnh của Hoà thượng cảm hoá được mọi người, những điều ấy tôi
chưa nói với ai, vì gặp được tri kỷ nên mới thổ lộ. Tôi đến nước Mỹ, là
do Lục Tổ Đại Sư bảo tôi đến, pháp tự của tôi là Độ Luân, pháp danh là
An Từ, Hoà thượng Hư Vân đặt tên tôi là Tuyên Hoá .
-
Khi tôi ở Cổ Sơn cũng đã từng gặp Hoà thượng Hư Vân. Tôi là người tu khổ
hạnh, một chữ cũng không biết, không biết thuyết pháp, không biết gì cả.
-
Hoà thượng quá khách khí, xưa nay vốn gọi đó là vô sở đắc, tu hành không
phải dựa trên văn tự mà phải có đức hạnh mới độ chúng được. Lục Tổ Đại
Sư một chữ cũng không biết, công phu mà tôi có được là nhờ trì chú Lăng
Nghiêm và chú Đại Bi, lúc gặp việc gì nguy cấp phải dùng đến, không cần
phải niệm từ đầu tới cuối, chỉ niệm một vài câu hoặc một chữ trong đó
cũng có thể cảm ứng, tùy theo tình huống mà dùng câu cần thiết .
-
Tôi chỉ niệm Phật, khi gặp việc gì chỉ cần niệm một câu A-Di-Đà Phật là
được.
-
Tôi vốn ưa giúp người, nhưng vì giúp người mà bị nhiều sự hủy báng. Mặc
dù vậy, lòng lợi tha của tôi cũng không thối chuyển, nếu đem đầu tôi
chặt đi, tôi cũng vui vẽ bằng lòng. Ai chửi mắng tôi, tôi cũng xem đó
như lời ca tiếng hát; ai đánh tôi cũng như đánh vào vách, vì tôi muốn
hàng phục thiên ma ngoại đạo .
-
Ngài chính lá Bồ Tát.
-
Ngài là đại A La Hán, chúng ta sớm đã biết nhau, mấy chục năm không gặp,
bây giờ lại được trùng phùng. Tuy nói như vậy nhưng thật ra chúng ta
đã gặïp nhau mấy lần rồi.
-
Ngài vừa đến, tôi đã biết trước Ngài là ai; tâm Bồ Tát định gặp tức là
gặp .
-
Phàm có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng là phi tướng tức là
thấy Như Lai.
-
Ấy vẫn còn là sắc tướng, dù sao tướng vô hình có được cũng do tu luyện
từ tướng hữu hình mà ra.
-
Mượn giả để tu chơn .
-
Những gì mắt thấy đựơc thì vẫn còn sanh diệt, những gì mà tai nghe đựơc
cũng như vậy .
Thỉnh Hoà thượng trụ thế lâu hơn, trong chỗ vô hình Ngài hộ trì cho tôi
hoằng pháp .
-
Lần này tôi muốn rời cõi Ta-bà, không ngờ bị tín chúng giữ lại.
-
Đến - không từ đâu mà đến; đi - không từ đâu mà đi .
-
Tôi muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, - đến đi tự tại .
Pháp sư cười nói :
Ngài không đi, bởi vì tôi chưa đến; bây giờ tôi đến rồi thì Ngài lại
càng không được đi. Ngài phải trụ thế lâu hơn để cho thế giới hoà bình.
Chúng ta mỗi Người ở mỗi nơi, làm việc riêng của mình. Xin Hoà thựơng
đem tinh thần giúp tôi hoằng pháp lợi sanh, hàng phục thiên ma, thuyết
phục ngoại đạo .
- Còn như bây giờ chúng ta đang nói đến chuyện hoằng pháp; không
thể mang cái gì ra để hoằng pháp, mà phải tu đạt đến chỗ cảm hoá người
một cách vô hình. Đến như kẻ xấu trông thấy cũng khởi lòng tin, không
cần dùng lời nói .
- Đúng vậy, đúng vậy ! Hồi tôi ở Mỹ, nhiều người giàu có
đến chùa tôi cũng không tiếp chuyện, nhưng họ vẫn khởi tâm kính ngưỡng,
ấy gọi là : “động” cũng đại chuyển pháp luân “ tĩnh ” cũng đại chuyển
pháp luân; động-tĩnh không hai, tĩnh-động là một .
Sư phụ cười, Pháp sư Độ Luân cũng cười, Pháp sư ngửa
bàn tay đưa cho sư phụ xem, sư phụ cũng ngửa bàn tay đưa cho Pháp sư
xem. Hai người cùng mỉm cười hiểu ý nhau .
Sư phụ nói :
-
Tôi không định nói điều gì cả, nhưng vì Ngài nói nên tôi mới nói, không
cần phải nói nhiều lời
-
Tôi không nói gì cả :
Pháp sư Tạng Độ thấy sư phụ ngồi từ sáng đến chiều, tỏ ý :
-
Hoà thượng ngồi lâu quá rồi !
-
Chính Ngài mới ngồi lâu đấy chứ .
Ngày 3 và 4 tháng 7 – 1974
Sư phụ bắt đầu giảng dạy. Lúc ấy không có người ghi chép, bây
giờ chúng tôi hồi ức lại lời sư phụ dạy, xin lược ghi ra đây :
“ Cư sĩ đến chùa cúng dường tài vật là để tạo
phước điền, phải nên bố thí không hình tướng thì công đức mới lớn,
nghĩa là không thấy Người bố thí, vật bố thí và người được bố thí.
Cư sĩ đến chùa tụng kinh bái sám phải thành tâm,
phải buông xả. Không nên thân ở Chùa mà tâm lại lo nghĩ đến con cái ở
nhà; con cái tự có phước báo của chúng, nên không cần quan tâm đến mà
phải chuyên tâm học Phật. Nếu như còn để tâm lo nghĩ đến con cái và việc
nhà, tức là người si mê .
Cư sĩ đem phẩm vật đến cúng dường chư Phật, vật
ấy trở thành vật của Tam Bảo, không còn là vật của mình .
Giả sử trẻ con dẫn đến chùa đòi ăn trái cây
cúng Phật hoặc đã cúng rồi, khô