- NHỮNG
CÀNH HOA ĐẠO
-
Như
tên đã đặt, "Những Cành Hoa Đạo" chỉ là một tập sách khiêm
tốn gom góp và chọn lọc một số bài, do một Phật tử trẻ tuổi nhiệt
thành, bạn Tịnh Như (còn có bút hiệu Nhất Như, Thanh Thuyền, Chiên Đàn
Hương), viết trong những thời gian khác nhau, để trình giải nhiều vấn
đề về Phật học.
Những bài này dù không gắn liền với nhau vào một trọng tâm, nhưng
đều đề cập đến những khía cạnh đa diện của một toàn bộ Phật học
vốn tương quan với nhau, và đều hàm súc các nguyên lý uyển chuyển của
Phật giáo. Nét nổi bật nhất là tác giả đã nhận định và trình bày một
cách cẩn trọng và khách quan bằng những lề lối quan sát, suy luận hết
sức vi tế, sâu sắc mà vẫn phổ biến được đầy đủ những điều
căn bản cần thiết, sự lý viên dung, phù hạp với những trí tuệ tự do
không dính mắc.
Do đó, "Những cành hoa đạo" tuy đơn sơ, rải rác trong biển
Pháp, vẫn thể hiện được sắc màu tươi mát của những lạch suối
tình thương và phảng phất ít nhiều hương vị giải thoát thanh cao.
Tập sách này đánh dấu một bước đầu chuyển hướng mạnh mẽ
trong sinh hoạt tinh thần của tác giả, và từ đấy đang tỏa rạng như một
lẽ sống mới trong ánh đạo lung linh muôn hình vạn trạng, phát xuất từ
gốc Từ Bi, Hỉ Xả.
Mong rằng tập sách nhỏ này sẽ đáp ứng phần nào những suy tư
thao thức của các bạn độc giả và Phật tử chơn thành trong mọi giới
đang dũng mãnh đi tìm một con đường sống sáng lạng, tự do và vinh hiển,
trong một cảnh giới vô cùng biến động và phức tạp của cuộc sống hiện
đương.
Tác giả tâm thành hiến cúng lên Đức Phật "Những cành hoa đạo"
đầu tiên do công phu góp nhặt của tác giả trong mấy năm qua, để kỷ niệm
mùa Phật Đản 2511 đầy rẫy khổ đau đây đó.
Chúng tôi xin tùy hỷ công đức này và xin hân hạnh giới thiệu
cùng quý độc giả và Phật tử xa gần.
Huế, mùa Phật Đản 2511 (1967)
THÍCH ĐỨC TÂM
******
TẤT CẢ
CHO TÌNH THƯƠNG |^ |
Cho đến bây giờ và cho đến cả sau này, giá trị căn bản của Phật
giáo vẫn không ngoài từ bi và trí tuệ. Dù xuất thế hay nhập thế, dù
khép mình trong tu viện hay đi vào cuộc đời, nếu vượt khỏi từ bi và
trí tuệ, chắc chắn Phật giáo sẽ không còn giữ nguyên bản sắc được
nữa.
Thảm trạng của cuộc chiến tranh bi đát hiện nay đưa dân tộc vào
nổi khổ đau trầm trọng, không cho phép người Phật tử bỏ quên sứ nhiệm
khẩn cấp đầu tiên của mình: đó là sứ mệnh cống hiến tất cả cho
tình thương. Sứ nhiệm đó cũng là giềng mối để thống nhất ý chí của
mọi tầng lớp giáo phái và của quảng đại quần chúng. Rời tình thương
ra, hoặc đẩy lui tình thương ra sau hậu trường của nền đạo học Phật
giáo, chúng ta tự mình phân hóa lấy mình và sẽ ngăn cách nhau qua những
quan điểm dị biệt.
Lúc này chính là lúc cần phải gầy dựng và khơi động lại nguồn
sinh lực thuần túy của Phật giáo, nguồn sinh lực đã đem lại cho nhân
loại và nhất là dân tộc một nếp sống từ hòa, dũng liệt qua bao thế
kỷ. Nguồn sinh lực đó, vượt lên trên mọi tư kiến chánh trị, mọi nhận
thức chủ quan, mọi điểm dị đồng về giáo chế cũng như giáo hệ, là
mục tiêu thống nhất cho mọi đường lối hoạt động Phật giáo. Nguồn
sinh lực đó chính là khả năng Hòa Ái, là diệu dụng Từ Bi, đã thuần
hóa mọi cuồng động đẫm máu của dân tộc trong quá khứ và chắc chắn
sẽ rất cần thiết trong việc thuần hóa bạo lực của con người hôm nay
và ngày mai để thiết lập một xã hội bình an và hạnh phúc.
Cho nên, lúc này cũng chính là lúc cần phải dẹp bỏ mọi tư kiến
cá nhân, mọi thái độ bất đồng, mọi hành động dị biệt để hòa đồng
và nhất trí chung trong công việc bảo vệ sinh lực của Phật giáo cũng
như của dân tộc. Lúc này hơn lúc nào hết, cũng chính là lúc cần phải
gạt bỏ địa vị, danh lợi, gạt bỏ mọi đố kỵ, mọi thái độ tự tôn
tự ti, mọi hình thái tranh chấp tư tưởng để cùng nhau dấn thấn vào nỗi
đau khổ của cuộc đời.
Lý tưởng đặt quá xa, thường không đạt được trong tầm tay vói.
Trái lại, giai đoạn hóa tôn giáo một khi quá khích sẽ bỏ quên đặc chất
thiêng liêng thường tại. Bây giờ không phải lúc dồn mọi năng lực tinh
thần vào công việc suy niệm siêu hình, thoát ly cuộc sống, trong khi quanh
ta tràn đầy tiếng khóc. Nhưng cũng không phải là lúc đi vào cuộc đời
nặng màu thế tục bằng những lối nhìn cục bộ, chia rẽ, phân ly; không
phải là lúc đem thí nghiệm những phương tiện, những sách lược chủ
quan với tấm lòng tự tin quá khích.
Xã hội chúng ta bây giờ đã ghê sợ sự rối loạn, sự vọng động
lắm rồi. Xã hội chúng ta bây giờ cũng ghê sợ luôn sự ru ngủ bình yên
của những liều thuốc phiện bi quan yếm thế.
Khát vọng khẩn thiết của xã hội hôm nay là an lạc, là xóa bỏ khổ
đau. Những trái tim của Quán Thế Âm Bồ Tát hôm nay vẫn cần phải thị
hiện. Đây chính là lúc vận động và vận dụng mọi hình thái phát triển
tình thương đến cùng tận để gây nên một sức mạnh vô uý chống lại
cuồng vọng của bạo lực. Một khi tình thương đã trở thành sông biển;
một khi ý chí, thể hiện tình thương đã trở thành gió bão, thì mọi
thành trì bạo lực sẽ dần dần sụp đổ.
NHÂN DUYÊN
XUẤT THẾ |^ |
Sự xuất hiện của Thích Ca Mâu Ni trong lịch sử nhân loại chỉ vì
một lý do duy nhất là khai ngộ tuệ giác siêu việt của con người. Tuệ
giác siêu việt đó chính là tuệ giác chư Phật. Nhờ tuệ giác siêu việt
đó mà con người có thể thoát ly đau khổ.
Nhân loại từ lâu vẫn ngụp lặn trong sự mê vọng của chính mình,
là không bao giờ nhận thức thực tại đúng theo chân tướng của nó. Bằng
sự suy tưởng ngu muội của ý thức, bằng sự cố chấp nông nổi của
tâm niệm, con người đã đo ngắm thực tại bằng những kích thước khác
nhau và những nhãn hiệu khác nhau. Con người phiêu lưu trong những sai biệt
của hiện tượng do mình tạo nên và bám víu vào những sai biêït biến động
đó. Xem mình là thực hữu, xem sự vật là thực hữu, xem những nhãn hiệu
thiện ác là thực hữu, con người tự trói mình vào sai biệt của hiện tượng,
dấn thân vào sự trôi lăn vô tận, thường được mệnh danh là sinh tử
luân hồi. Nỗi khổ đau căn bản và lớn lao nhất của con người bắt đầu
bởi sự nhận thức sai lầm đó. Chỉ khi nào con người khám phá và xử dụng
được khả năng tuệ giác, nhìn thực tại với tinh thần vô phân biệt,
con người mới tìm được chân tính của mình, của sự vật và tìm được
sự tự do tuyệt đối trong biến động mà thôi. Hoài vọng suốt cả một
đời đức Thế Tôn, như kinh Pháp Hoa đã nói, chính là khai thị cái khả
năng tuệ giác tối thượng đó để giúp con người hoàn toàn giải thoát
trong tinh thần hoàn toàn giác ngộ.
Chúng ta có thể nói rằng đạo Phật là đạo cứu khổ. Hễ khi nào
đau khổ còn tồn tại trong cuộc sống thì sứ mệnh của Phật giáo vẫn
tồn tại. Chất liệu đau khổ càng biến thái thiên hình vạn trạng, thì
phương thức cứu khổ cũng phải vì đó mà thực hiện qua nhiều hình
thái khác nhau. Suốt cả cuộc đời truyền giáo của Đức Thế Tôn, từ hội
Hoa Nghiêm đến hội A Hàm, qua kỳ Phương Đẳng đến kỳ Pháp Hoa... cũng
chỉ vì tâm bệnh bất đồng của chúng sanh mà cho nhiều thứ thuốc. Giá
trị sinh hoạt của mọi hệ thống tư tưởng Phật giáo qua bao nhiêu không
gian và thời gian chính là ở sự linh động cứu khổ đó, linh động
nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc.
Cho nên, kỷ niệm sự xuất thế của đức Bổn sư, người Phật tử
không thể bỏ quên được mục đích tối hậu của Phật giáo, và cũng là
hoài bão tối thượng của đấng chí tôn, là thực hiện và khai thị cho mọi
người cái khả năng tuệ giác mà kinh Pháp Hoa thường gọi là "Phật
tri kiến". Đó là khuôn mặt đích thực của mọi người, cái Phật
tính bất sinh bất diệt, bình đẳng với thực tại, "không phải một,
không phải hai". Đi vào sự cứu khổ bằng những phương tiện cần
thiết mà bỏ quên cái mục đích tối hậu và tối thượng đó, chúng ta sẽ
vô tình chôn kín hoài bão của Đức Thích Ca.
Tuy nhiên, cũng như cuộc đời thuyết pháp độ sanh của Ngài, tùy căn
cơ, tùy giai đoạn mà phương thuốc cứu khổ khác nhau, chúng ta phải có bổn
phận lăn xả vào cuộc đời để tìm phương cứu chữa. Chúng ta phải sống
thực với cuộc đời, kinh nghiệm trong cuộc đời mới thấy được toàn
vẹn bộ mặt của cuộc đời hôm nay.
Trong thế giới cơ khí đầy tham vọng này, và gần gũi hơn, trong mảnh
đất quê hương đầy máu lệ này, bao nhiêu nghèo đói bất công, bao nhiêu
khổ đau dằn vặt cần phải được biến cải. Ngưới Phật tử, trước
hơn ai hết, phải khảo sát thực trạng khổ đau, để từ đó tìm ra phương
thuốc cứu khổ hợp lý và hữu hiệu. Có như vậy, giá trị bên cạnh triết
lý trường cửu bất biến của Phật giáo, giá trị thực dụng của giai
đoạn mới trở nên thiết thực.
Cứ mỗi năm đến kỳ kỷ niệm lễ Đản sanh, chúng ta không khỏi
ôn lại hoài bão của đức Thế Tôn qua câu kinh Pháp Hoa: "Các đức
Phật, Thế Tôn vì muốn chúng sanh mở tri kiến Phật để được thanh tịnh
mà hiện ra đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra đời;
vì muốn chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra đời; vì muốn cho
chúng sanh chứng nhập tri kiến Phật mà hiện ra đời. Xá lợi Phất! đó
là chư Phật chỉ vì một đại sự nhân duyên mà ra đời vậy".
Suy gẫm hoài bão của đấng đại từ và đại giác như vậy, chúng
ta nguyện dâng hiến cuộc đời giả huyễn này cho đạo pháp, cho nỗi khổ
đau vô lượng. Lấy chúng sanh làm bản thân, lấy khổ đau làm linh hồn, lấy
địa ngục làm trường hoạt động, chúng ta sẽ đi tìm lại tự tánh cho
chính mình, vì tự tánh vốn không rời khổ đau và địa ngục. Tất cả
đều là thực tại. Tất cả đều là tự tánh.
Có như vậy, chúng ta mới có thể báo đáp phần nào trong muôn một
công ơn của đức Từ phụ, đấng đã hiến mình cho tất cả và trở nên
tất cả.
DÒNG LỆ A
TƯ ĐÀ |^ |
Không biết tự bao giờ, những dòng lệ nóng của con người đã biến
thành biển mặn. Sau hàng nước mắt, một chút buồn nào sót lại, một niềm
đau nào chợt tắt, hay tất cả đều nhòa trong đóm nắng hư vô? Có những
giọt nước mắt chóng khô như những giọt sương mai đầu bụi cỏ, nhưng
cũng có những giọt nước mắt nghìn năm trở thành ngọc đá. Nhưng nào
có ai nghĩ về những giọt nước mắt bắt nguồn từ một niềm đau tuyệt
đối, từ một thân phận làm người, từ một đắng cay luân hồi bất tận.
Đó là những giọt nước mắt của người đạo sĩ: Dòng lệ A Tư Đà.
Với một chòm râu như mây trắng đầu non, với tấm thân gầy như gốc
tùng đỉnh núi, người đạo sĩ già nua đã vượt qua bao nhiêu dặm đường
hút gió để đi tìm vì sao Bắc đẩu cho tâm hồn mình. Nhưng khi đã dừng
lại trước thành Ca Tỳ La, diện kiến với đấng siêu phàm vừa xuất thế,
phủ phục dưới hình ảnh của chân lý siêu thoát thời gian, người đạo
sĩ trong giây phút đó, cũng vừa diện kiến với chính mình, với sự đổ
vỡ bao la của một tấm hình hài sắp gửi về tro bụi. Giọt nước mắt
cảm hoài bắt đầu lăn xuống. Giọt nước mắt của hữu hạn đang đối
diện với vô cùng.
Ôi! có những loài hoa trong âm thầm bóng tối chỉ khát khao tắm được
ánh mặt trời. Nhưng khi ngày vừa xuất hiện, thì hoa cũng vừa rụng cánh.
Làm sao có thể níu lại ngày tháng khi tất cả vẫn trôi đi. A Tư Đà ơi!
Giọt nước mắt kia có phải là nước mắt của khổ đau đang vừa tỉnh
giấc, hay là của cuộc đời đối thoại thường trực giữa trí thức với
bản ngã trong sâu thẳm của tâm hồn. Nỗi thổn thức hai ngàn năm trăm
năm về trước có khác chăng nỗi thổn thức của hai ngàn năm trăm năm về
sau? Khác hay không, nào ai có biết. Loài dã tràng nào lại không xe cát,
không để lại những hạt ngọc bên bờ đại dương, và biển cả nào lại
không chuyển mình để xóa nhòa tất cả. Thời gian làm gì có sau hay có trước.
Trước hay sau cũng bởi tại mình. Nhưng một khi đã ôm lấy cái trước
sau, thì thời gian chính là hình thái của biến động. Trôi trong biến động,
lắng nghe biến động và hoài vọng đến một chân trời siêu thoát, giọt
nước mắt năm nào phải chăng là giọt nước mắt của người đã tỉnh
giấc, nhưng đau lòng không gặp được kẻ hướng đạo mà thôi.
Hoa Ưu đàm nghìn năm chỉ nở có một lần. Trước khi hoa nở, không
gian vẫn còn trống trải. Nhưng một khi hoa đã nở rồi, không gian mãi
mãi vẫn còn phảng phất mùi hương. A Tư Đà ơi! Giọt nước mắt năm
xưa với gịot nước mắt bây giờ cũng đều là một, cùng xuất phát từ
một niềm đau tủi cực là không được nghe chân lý im lặng trở nên thạnh
lợi... Nhưng dù sao, dòng lệ năm nào vẫn là dòng lệ tuyệt vọng của một
không gian chưa hề hoa nở; dòng lệ bây giờ tuy rằng mặn đó, nhưng may mắn
hơn, vẫn là dòng lệ của một chân trời sót lại hương thơm...
... Cho đến hôm nay, những gịot nước mắt đau thương của tháng
ngày vẫn âm thầm đổ xuống. Môït buổi chia tay, một ngày ly biệt, nước
mắt đã bao lần hoen trang tình sử và làm giá buốt quan tài. Nhưng mấy ai
đã khóc thật cho chính mình, cho sự tàn phá âm thầm của sinh tử, cho nỗi
lưu đày quên mất cố hương. Có ai, đã một lần đối diện với chính
mình, soi ngắm tâm hồn mình, để trong hoang vu của tiềm thức, bắt gặp
lại dấu chân của chính mình đã bỏ quên từ nguyên thủy. Có ai, như một
loài ốc nhỏ, đêm ngày vẫn thấy trong lòng mình chan chứa tiếng sóng đại
dương. Ôi dòng lệ con người! Chưa ai khóc khi đứng trước bốn cánh cửa
thành, khóc cho một cuộc dấn thân; chưa có ai đem nước mắt của mình để
làm khô nước mắt của thiên hạ.
Hởi dòng lệ A Tư Đà! Hãy xin biến thành ngọc châu anh lạc. Tôi
xin quỳ xuống vì người, vì ánh sáng lung linh của những giọt pha lê
sáng ngời đạo vị. Xin hãy cúng dường những hạt ngọc đó cho mười
phương thiên hạ, để cho mọi người trong vô lượng cõi tự mình trang
nghiêm pháp thân.
QUY Y PHẬT
|^ |
Quy y chỉ là sự trở về để nương tựa. Trở về là trở về với
chính mình và nương tựa là nương tựa ở chính mình. Ngoài mình ra, không
còn một nơi nương tựa nào khác.
Nhưng trở về với mình và nương tựa ở chính mình không phải là
trở về và nương tựa vào một thể xác giả huyễn luôn luôn biến hoại;
cũng không phải là trở về nương tựa vào những cảm giác phù hư; cũng
không phải là trở về nương tựa vào sự phiêu lưu bồng bềnh của ý thức.
Tất cả những thứ đó không phải là chính mình mà chỉ là những ảo vọng
thường mệnh danh là bản ngã. Trở về với chính mình, nương tựa ở chính
mình, là trở về và nương tựa vào một khả năng siêu việt bất sinh bất
diệt, một khả năng sâu thẳm nhưng vô giới hạn không thể nào suy niệm
được. Cũng nơi khả năng đó, những lớp bụi mờ của mê vọng đã phủ
kín, khiến cho ta chỉ trông thấy sự dao động của sương mù mà chẳng thấy
bản chất không gian. Khả năng đó là Chân như, là chính ta, là Phật.
Bị ràng buộc trong những hệ lụy, khổ đau của cuộc sống, nhân
loại từ lâu vẫn muốn vương mình đến một chân trời tuyệt đối càng
vút bay xa, và con người vẫn mãi mãi giam mình trong bức tường thành hiện
tượng. Tai không vượt khỏi âm thanh; Mắt không vượt khỏi màu sắc; Ý
thức không vươn mình ra khỏi những suy đạt huyền đàm. Thượng đế,
con đường cùng của suy niệm, cũng chỉ khai sanh bằng ý niệm và chẳng
qua là sản phẩm của ý thức mà thôi. Con người muốn đi tìm lại những
khuôn mặt đích thực nguyên thủy (Bản lai diện mục) của chính mình, nhưng
cũng đành thất vọng. Ý thức chỉ có thể soi sáng đối tượng mà không
bao giờ soi sáng được thực chất của mình.
Con người đâu biết rằng, thế giới hiện tượng lẫn ý thức đều
nương nhau mà hiện hữu. Sự trình bày của hiện tượng giới, chẳng qua
là kết quả của một sự trông lầm. Càng xử dụng ý thức bao nhiêu, sự
sống càng sai biệt và con người càng đau khổ bấy nhiêu. Thực tại vốn
bình đẳng hồn nhiên. Chỉ có con người mê vọng mới dán lên đó những
nhãn hiệu dị biệt và phức tạp.
Thực tại là thực tại, linh động, phong phú, tràn đầy nguyên thể
chứ không có thực tại của ý thức. Thực tại mà đã bị ý thức hóa
thì không còn là chân thực tại nữa.Và chính khuôn mặt đích thực của
mỗi người chúng ta là chân thực tại đó, là chân tâm, chân thể đó.
Đau khổ là vì bám chặt vào những phù ảnh của thực tại, bám chặt
vào sự suy đạt sai lầm của ý thức. Nếu biết gỡ những hiện tượng
ma quái ra khỏi tên phù thủy ý thức, ra khỏi những hiện tượng ma quái,
con người sẽ trực giác được tự tánh của chính mình. Con người sẽ
thong dong, tự do trước những trói buộc phù ảo. Con đường để soi sáng
tự tánh đó không phải là con đường duy lý, suy luận mà phải là con
đường vô niệm. Vô niệm là rời bỏ những nhận thức lưỡng diện như
trời với đất, có với không, động với tĩnh, phàm với thánh, sanh với
diệt, biến động với Niết bàn, chủ với khách, bản ngã với tha
nhân... để tương hợp thường trực với tự tánh, với chân thực tại
bình đẳng.
Bắt gặp được tự tánh là bắt gặp tất cả. Thấu suốt được
tự tánh là thấu suốt tất cả. Thể nhập và hòa đồng với tự tánh
là thể nhập và hòa đồng tất cả. Tất cả là tự tánh. Kẻ đại phu
không khiếp nhược, không sợ hãi, dấn thân đi tìm chân thể đích thực
của chính mình, đạt được tuệ giác siêu việt và tự do tuyệt đối.
Người đó kết hợp với thực tại toàn diện và cũng là thực tại toàn
diện. Người đó cũng chính là chúng ta. Vì chúng ta cũng là thực tại
toàn diện chứ nào khác.
Cuộc phiêu lưu của nhân loại để đạt được bản chất của chính
mình không còn là một cuộc phiêu lưu vô vọng và bi đát. Con người không
còn cô đơn khi phải đối diện với ngoại giới phũ phàng và khi phải
quay mặt tự tra hỏi rằng mình là ai. Chỉ cần con người có đủ can đảm
hay không để tự mình dấn thân và tự mình thức tỉnh.
Về phần chúng ta, chúng ta không thể trao gởi thân phận vào bàn tay
của một thần linh giả tưởng do chính ý thức hư ngụy của chúng ta
sáng tạo. Chúng ta cũng không thể bám víu vào giá trị phù ảo và biến
động của thế giới vật chất, một thế giới cũng nương vào tâm linh
mà biến hiện. Chúng ta chỉ có thể tìm về và nương tựa vào tự tánh
thanh tịnh sâu thẳm của chính mỗi chúng ta để tìm cách hiện thực nó.
Đó là khuôn mặt đích thực vô thủy vô chung mà chỉ có trực giác trí
tuệ thể nghiệm mới tìm thấy. Đó là chân thực tại, chân tính, chân như,
là Phật.
Tìm về và nương tựa nơi tự tánh bản lai thanh tịnh của chúng ta,
nơi khả năng tuệ giác siêu việt, nơi thực tại tự do tuyệt đối của
mỗi người, tức là quy y Phật vậy.
QUY Y PHÁP |^ |
Pháp,
nếu hiểu theo nghĩa đơn giản và thông thường thì chính là những lời
phô diễn chân lý và hướng dẫn hội nhập chân lý của đức Phật. Người
Phật tử không thể không nương tựa vào những sự phô diễn và sự hướng
dẫn ấy. Bởi vì, một lẽ rất giản dị, nếu rời bỏ pháp của đức
Phật, chúng ta sẽ trơ vơ như người thám hiểm không có la bàn, như người
vượt biển không có thuyền ghe. Tuy nhiên nương dựa vào pháp không phải
là nô lệ vào pháp, pháp chỉ có giá trị hướng dẫn, biểu hiện chân
lý, nhưng không phải là chân lý. Chân lý phải do nơi sự thể nghiệm của
mỗi người đối với thực tại. Chỉ có những kinh nghiệm tâm linh đó mới
giúp ta đạt đạo, mới là pháp linh động, mới là chân lý hiện thực.
Cho nên, quy y pháp trong tinh thần đó, người Phật tử không phải gặm
mòn hết ba tạng kinh điển, hụp lặn trong mấy vạn pháp môn, để trở nên
đa văn và kiêu mạn mà trái lại phải tự soi sáng lấy mình, dấn thân
vào sự thể nghiệm tâm linh thường trực.
Pháp, nếu hiểu theo nghĩa rộng rãi hơn, thì chính là toàn bộ thực
tại, hiện thực và biến động trùng trùng vô tận. Tất cả cái gì có
thể quy định, nhận thức, tiếp xúc đều gọi là pháp; cây cỏ là pháp;
sự vật là pháp; hư vô là pháp; ý niệm là pháp.
Tất cả các pháp đều dựa vào nhau mà hiện hữu mà thành lập và
cũng dựa vào nhau mà hủy diệt. Tất cả đều trôi lăn trong những hệ thống
chằng chịt phức tạp, khi thì phá hoại khi thì dung hợp, biến hiện đến
vô cùng. Nói đến pháp là nói đến tương quan. Trước sự thực của các
pháp, của hiện tượng, của sự biến động vô thường, ít ra, mỗi người
Phật tử chúng ta phải nhận thức sâu xa sự tương quan đó. Tất cả những
dòng sinh hoạt vô tận chỉ là một sự tương quan.
Cho nên hòa mình trong cộng đồng quốc gia, cộng đồng xã hội, cộng
đồng vũ trụ, trước hơn ai hết, chúng ta phải tìm được sự liên hợp
giữa cá nhân với tập thể, giữa đơn vị với toàn bộ, trong một thể
tương quan hòa đồng và hợp lý. Dù là một đơn vị nhỏ bé và khiêm tốn
trong sinh hoạt vĩ đại và tràn đầy, mỗi động tác của chúng ta vẫn
ảnh hưởng đến toàn thể thực tại vô giới hạn đó. Đó là điều mà
chúng ta nương dựa vào pháp để rút tỉa nguyên lý cho cuộc sống trước
hết.
Tuy nhiên tất cả các pháp đều là biến hiện của tâm; tất cả thực
tại đều là ảnh tượng. Ngoài tâm ra, thực tại không thể nào tồn tại
và hiện hữu. Và ngược lại, ngoài thực tại chúng ta cũng không tìm thấy
tâm ở một nơi nào khác nữa. Thực tại là ảnh tượng giả huyễn của
tâm và tâm cũng chính là thực tại, tràn trề trong thực tại. Cho nên,
trong nghĩa đó, quy y pháp, chính là nương dựa thực tại để tìm lấy
tâm thể của chính mình.
Nhìn dưới khía cạnh tuyệt đối, thì các pháp tự nó không sinh và
cũng không diệt, bởi vì tất cả đều huyễn hóa, sinh khởi tại tâm. Vì
thế quy y pháp, nương dựa vào pháp không phải là ôm giữ thực tại, quan
niệm sự vật như những thực thể bất biến. Nếu ôm giữ thực tại, cố
chấp thực tại, tức là để cho thực tại trói buộc và sẽ trôi lăn
trong dòng biến động mãi mãi. Nhưng quy y pháp, nương dựa vào pháp cũng
không phải là rời bỏ thực tại, bởi vì thực tại chính là tâm. Ngoài
thực tại ra, làm gì còn có tâm được nữa.
Pháp, tự nó không sinh, không diệt và không hề có sai biệt. Sai biệt
là bởi ý thức. Quy y pháp là dựa vào sai biệt để tìm thấy tự tính
không sai biệt, tức là đi vào tâm thể, trung tâm thực tại một cách vô
tâm. Bồ Đề Đạt Ma đã nói: "Không nên ở trong pháp mà cũng không nên
không ở trong pháp". Đó là phương thức quy y pháp hợp lý vậy.
QUY Y TĂNG |^ |
Ngày
nay, dưới mắt chúng ta, Tăng là một đoàn thể Phật tử xuất gia, giữ
giới luật, duy trì chánh pháp và sống trong tổ chức lục hòa. Tăng, sở
dĩ được xem là ngôi quý báu trong ba ngôi vô thượng, bởi vì Tăng đã
hàm chứa những giá trị đó.Quy y Tăng, tức là nương tựa vào một tổ
chức đã cương quyết thoát ly ràng buộc gia đình, ràng buộc danh lợi thế
gian, hiến mình cho lý tưởng giác ngộ và giải thoát. Qua hình ảnh uy
nghiêm và dung dị của người Tăng sĩ, chúng ta bắt gặp lại bóng dáng của
những nhà đạo sĩ ban đầu: Tất Đạt Đa, Kiều Trần Như... nơi vườn Lộc
uyển. Cho nên, bất cứ một việc cải cách vĩ đại nào, mà biến Tăng giới
thành những kẻ còn ôm giữ những luyến ái gia đình, những hạnh phúc
riêng tư (như Tân Tăng ở Nhật Bản), đi ngược lại lối sống tập thể
lục hòa thì muốn gọi gì thì gọi, chứ không thể nào mệnh danh là Tăng
được nữa.
Tăng, nếu hiểu cho thật chính xác và rộng rãi, thì chính là Hòa Hợp
Chúng: một số lượng tập thể sống hòa hợp. Một không thể gọi là Tăng;
hai cũng không thể gọi là Tăng; mà phải bốn trở lên mới được gọi là
Tăng, bởi vì Tăng không phải là cá nhân mà là tập thể. Nhưng hội đủ
yếu tố tập thể cũng chưa gọi là Tăng nếu tập thể đó không theo
nguyên tắc hòa hợp. Hòa hợp và tập thể là hai yếu tố quyết định để
làm sáng tỏ công việc chính danh cho Tăng giới.
Tuy nhiên, quan niệm một cách rộng rãi hơn nữa, thì quy y Tăng không
phải chỉ nương dựa vào đoàn thể xuất gia uy nghiêm giới hạnh mà
thôi, còn phải nương dựa vào tập thể tính và hòa hợp tính, vì tập thể
tính và hòa hợp tính là yếu tính của Tăng và cũng là yếu tính của thực
tại.
Nếu như Phật là thể tính thực tại, Pháp là hình tướng thực tại,
thì Tăng chính là diệu dụng của thực tại, tức là đặc tính tập hợp
và hòa hợp của tất cả mọi Pháp.
Sống hạn giới trong một cái vỏ của xác thân và tư tưởng tức là
sống đối lập, mâu thuẩn với toàn bộ thực tại, một thực tại mà
trong đó, tất cả đều tương quan tương hợp với nhau để sinh khởi. Quy
y Tăng tức là nhận thức xã hội tính của vũ trụ, mà sinh mệnh của mọi
người là một phần tử, và cố gắng để dung hợp với thực tại trong
ý nghĩa của hòa hợp tính.
Sự sai biệt của hiện tượng giới vốn bắt nguồn từ tâm thể
và là cái dụng của tâm thể; nhưng nếu sống trong sai biệt mà tạo thêm
cố chấp, tạo thêm mâu thuẩn, tạo thêm sai biệt, tức là đi vào con đường
nghịch dụng với chân như. Trái lại, sống trong sai biệt, nhưng tìm được
sự không sai biệt, tìm được sự dung hợp thực tại như sữa dung hợp với
nước, tức là chọn con đường thuận dụng, con đường sinh hoạt hợp lý.
Tăng là gì? Tăng là tập thể hòa hợp. Sinh hoạt trong thực tại, tìm được
sự liên hệ giữa cá thể và đoàn thể, tìm được sự hòa hợp giữa
cá nhân và vũ trụ, tức là quy y Tăng vậy.
Người Phật tử đã quy y Phật, đấng vô thượng chí tôn và là thực
tại tuyệt đối; đã quy y Pháp, lời vàng ngọc chí tôn và là hình ảnh của
thực tại tuyệt đối thì lẽ dĩ nhiên, người Phật tử phải quy y Tăng,
tổ chức Tăng đoàn thanh tịnh hòa hiệp và cũng là sinh hoạt diệu dụng
của thực tại tuyệt đối. Phật không thể rời Pháp, Tăng; và Tăng không
thể rời Pháp, Phật. Phật là thể của Pháp, Tăng; và Tăng là dụng của
Pháp, Phật. Tất cả chỉ là một, đều là thực tại toàn diện tuyệt đối.
Tuy nhiên, trên con đường thuận dụng chân như, trên con đường hòa
hợp cá nhân với toàn thể, người Phật tử cần phải tập bước những
bước ngắn ngủi nhưng vững vàng. Những bước đó chính là gia đình,
làng xóm, đoàn thể, quốc gia, xã hội. Sự hòa hợp của tập thể gia đình,
sự hòa hợp của tập thể làng xóm, sự hòa hợp của tập thể quốc gia
xã hội chính là những bước khởi đầu dẫn ta đến sự hòa hợp của tập
thể vũ trụ.
Tăng là tập thể hòa hợp. Thực hiện sự hòa hợp, dù ít ỏi và
đơn giản đến bao nhiêu, cũng là hình thái của quy y Tăng vậy.
ĐỊA NGỤC |^ |
Ngày nay, hơn lúc nào hết, nhân loại chúng ta mới cảm thấy một
cách chua chát rằng, địa ngục không phải chỉ xuất hiện ở một thế
giới xa lạ và bí mật nào, mà còn xuất hiện trong thế giới của chúng
ta. Địa ngục gắn liền với hiện hữu và cũng là hiện hữu. Địa ngục
nằm giữa cuộc đời.
Ở đâu có đau khổ, có máu và nước mắt là ở đấy có địa ngục.
Mỗi ngày hàng vạn con lợn bị thọc tiết trong lò sát sanh, hàng ngàn con
chim quằn quại trên lò lửa của một khách sạn, hàng ngàn người bị tra
tấn trong mọi lao tù, thì chính lúc đó hình ảnh của một địa ngục trần
gian đã thể hiện một cách trọn vẹn
Địa ngục A ty, địa ngục Vô gián mỗi ngày mỗi dựng lên la liệt
khắp mặt địa cầu, không bởi những phẩm cách thần thánh, quỷ Dạ
xoa, đầu trâu mặt ngựa, mà bởi tự bàn tay tàn bạo của chính con người.
Con người đã dựng lấy địa ngục cho chính mình và tự chôn mình vào đó.
Lịch sử nhân loại không thể nào quên được tiếng rên siết đau khổ của
hàng vạn người bỏ xác trong công cuộc xây dựng Vạn lý trường thành,
và không thể nào quên được những phút kinh hoàng ghê rợn của nhân loại
khi dấu chân ngựa Mông cổ đẫm máu đi ngang qua. Lịch sử nhân loại cũng
sẽ không bao giờ quên được những nỗi hãi hùng của những dân tộc lao
mình vào hai cuộc thế chiến vĩ đại, hình ảnh của bạo tàn, vô luân,
khủng khiếp. Và hôm nay, lịch sử nhân loại còn đang chứng kiến những
ngọn lửa địa ngục đang bốc cháy trên mặt địa cầu, kết quả của lòng
tỵ hiềm, đố kỵ và hận thù. Nhân loại tranh chấp nhau vì những lợi
quyền kinh tế, chánh trị và tranh chấp nhau vì tư tưởng. Địa ngục trần
gian không còn dựng lên một chốn mà dựng lên khắp nơi. Địa ngục đã
tràn lan khắp cuộc sống.
Nhưng thứ địa ngục sâu kính nhất là thứ điạ ngục dựng lên
trong mỗi tâm hồn nhân loại. Đấy là thứ địa ngục trên cả mọi thứ
địa ngục và cũng là nơi xuất phát mọi quang cảnh địa ngục trên mặt
địa cầu. Đấy là những tâm niệm xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam
và tàn bạo. Khi ngọn lửa tâm tưởng còn bừng cháy trong mỗi cá nhân,
thì ngọn lửa khổ đau của toàn thể nhân loại không thể nào dập tắt
được nữa.
Thảm trạng của thế giới chỉ là phản ảnh trung thực của đời
sống nội tâm. Cộng nghiệp của một "đại bản ngã" chỉ là tổng
số của từng biệt nghiệp của từng cá thể. Thế giới ngoại cảnh biến
hiện tùy thuộc vào tâm thức của mỗi người và cả toàn thể quần
chúng. Khi mỗi đôi mắt đã đỏ ngầu những tham bạo, thì cảnh vật bên
ngoài làm gì không ngập đầy máu và đầy lửa đau thương! Kẻ nào mang
kính đen thì cảnh vật trở nên tối sầm lại. Nhìn tha nhân qua lớp sương
mù của cách biệt, của chia rẽ, của oán hờn thì làm sao cuộc đời lung
linh màu sắc?
San bằng mọi địa ngục không gì hơn san bằng ngay chính tự tâm hồn
mình. Bài thần chú có hiệu lực nhất để phá tan Thập điện Diêm vương,
hơn cả mọi thứ đại thần chú khác, là biến dục vọng, sân hận, si
mê thành Từ bi, Bình đẳng và Trí tuệ. Đó mới là đại thần chú, đại
minh chú, vô thượng chú, vô đẳng chú, vô đẳng đẳng chú, năng trừ tất
cả mọi thứ khổ ách.
Muốn cứu vãn nhân loại đang thoi thóp trong đau khổ và hận thù, mỗi
cá nhân phải tự cứu mình trước đã. Cuộc cách mạng vĩ đại nhất là
cuộc cách mạng lấy bản thân mình. Khi những dây thép gai, hàng rào sắt,
thành lũy trong lòng người đã sụp đổ, thì mỗi địa ngục sẽ không
còn giá trị nữa, Lúc bấy giờ, trong ta và khắp mọi mơi, máu và lửa sẽ
biến thành hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa của tình yêu, hoa của
Từ ái.
CHÚ NGUYỆN CHO ĐỊA
NGỤC |^
|
Cho đến hôm nay, chúng ta mới thấy rằng địa ngục với trần gian
không còn cách xa nhau nữa.Thế giới của đầu trâu mặt ngựa, của lao
xá ngục hình, của thép gai lửa đạn ngày ngày vẫn hiển hiện trước mắt
chúng ta. Gục mình trên chông sắt, bẹp nát dưới chiến xa, cháy thây
trong lửa đỏ, tất cả những thảm họa đó không phải khi chết đi mới
gặp. Nhân loại và xứ sở chúng ta hôm nay đang dựng lên những thành trì
địa ngục và tự mình giam mình vào trong đó. Địa ngục chính là tâm niệm.
Địa ngục chính là hành động. Địa ngục chính là cuộc đời...
Chúng ta thường hay chú nguyện cho địa ngục - người chết, ít khi
cầu nguyện cho địa ngục - người sống. Chúng ta thường hay để tâm hồn
phiêu lưu qua hình ảnh của chín tầng âm phủ, mong mỏi giải thoát vong
nhân, ít khi nghĩ đến nỗi thống khổ của cuộc đời để tìm cách giải
phóng những niềm đau thực tại. Chúng ta thường hay chẩn tế, bố thí
cho những âm hồn bơ vơ trong bóng tối, quên lãng những tiếng kêu quằn
quại gần gũi dưới ánh sáng mặt trời. Chúng ta đâu biết rằng sống chỉ
là kế tục của chết và chết chỉ là kế tục của sống. Chết không phải
là nằm yên nghỉ một vùng u minh xa lạ và sống không phải là gắn liền
mãi mãi với đất cát phù sinh. Sống chết là nhịp liên hồi của dòng
sanh hoạt vô biên vĩ đại, là sự nối tiếp nhấp nhô lên xuống của
sóng biển vô cùng. Chẳng cần gì bên này cửa sinh hay bên kia cửa tử, hễ
nơi nào có khổ đau là ở đó có bóng hình địa ngục. Mỗi khi hạt giống
địa ngục đã gieo vào tâm tưởng, thì bất cứ nơi nào trong mênh mông thực
tại nghiệp quả, địa ngục cũng sẽ hiện hình. Cho nên, mở cửa cho tội
đồ địa ngục, trước hết phải mở cửa địa ngục trong tâm niệm của
mình và mở cửa cho bất cứ nơi nào có tiếng kêu la quằn quại, chứ
không phải chỉ mở cửa cho một thế giới u linh vô hình nào đó nằm
trong tưởng tượng mà thôi.
Cứ mỗi lần đến dịp lễ Vu lan, song song với ý nghĩa báo hiếu,
công việc chú nguyện cho vong linh siêu thoát đã trở thành thông lệ. Chú
nguyện chính là công việc tập hợp thiện niệm vào một đối tượng,
mong mỏi tạo nên một năng lực tinh thần vĩ đại để chuyển bạt nghiệp
quả. Sự sống chỉ là kết quả của hành động và tâm niệm. Ba ngàn đại
thiên thế giới cũng chỉ hình thành trong tâm niệm. Cho nên cải biến tâm
niệm sẽ cải biến được thế giới. Tập trung tất cả thiện niệm thành
khối lượng lớn lao một cách chí thiết và thành khẩn, chúng ta hy vọng
sẽ thay đổi được phần nào nghiệp quả của những kẻ đã chọn con
đường máu lệ mà đi.
Tuy nhiên, không có thế giới riêng biệt của người chết và thế
giới riêng biệt của người sống. Chỉ có sự đổi hình của dòng sinh
hoạt, dưới hình thức sống này hay hình thức sống khác mà thôi. Tất cả
đều là sự sống tràn đầy, luân lưu, biến động, chuyển tiếp không ngừng.
Địa ngục, nếu có cũng chỉ là sự sống. Sống đau khổ hơn và tủi nhục
hơn trong sáu hình thức sống (lục đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh,
trời, người, A tu la) mà Phật giáo đã phân loại.
Vì vậy, công việc chú nguyện không hẳn dành cho những kẻ đã chết,
mà đúng hơn là dành cho sự sống khổ đau. Chết chỉ là cách trở mình
để tiếp tục sống. Chết là khởi điểm cho sự sống thành hình. Chú
nguyện cho địa ngục là chú nguyện cho nỗi khổ đau tràn đầy của thực
tại.
Thế giới của chúng ta hôm nay mỗi ngày một dấn thân vào nỗi khổ
đau gần như tuyệt vọng. Lửa địa ngục bốc cháy từ trong tâm niệm và
dựng nên những thành trì máu lệ khắp mặt địa cầu. Chúng ta tự trói
mình trong một định mệnh do chúng ta tạo lấy, ngun ngút tham vọng và hận
thù. Chúng ta đi vào địa ngục.
Đã đến lúc chúng ta cần phải tích cực tập hợp năng lực chú
nguyện lại. Không phải chú nguyện cho một thế giới chết, một thế giới
tỉnh, một thế giới nằm yên bất động. Chú nguyện là chú nguyện cho cả
một thực tại sống linh động, châu biến mà chiến tranh và khổ đau
đang vây bủa.
Đã đến lúc chúng ta cần phải cải biến tâm niệm, đầu mối của
khổ đau hiện hữu. Đã đến lúc chúng ta cần phải phá đổ thành trì địa
ngục trong mỗi tâm hồn, để phá đổ thành trì địa ngục trong cuộc sống.
Sự sống chỉ thay đổi khi tâm niệm bắt đầu thay đổi.
Cùng nhau chúng ta hãy nhất tâm
chú nguyện. Hãy tạo thành một năng lực tâm linh vĩ đại, một ý chí
khát vọng thanh bình vĩ đại, để chuyển bạt nghiệp khổ cuộc đời, để
mỗi tội đồ chúng ta thoi thóp trong địa ngục trần gian này, hay bất cứ
địa ngục nào, trở nên siêu thoát.
SÚC SANH |^ |
Súc sanh giới, theo Phật giáo là một nẻo chuyển kiếp trong sáu nẻo
luân hồi. Sự hiện diện của súc sanh giới trong cuộc sống không phải
do ngẫu nhiên của một bàn tay toàn năng và huyền nhiệm sáng tạo, mà
chính là do ở nghiệp lực, một động năng bắt nguồn từ sự sống.
Sự sống của nhân loại và sự sống của sinh vật cũng chỉ là một:
biến hoại xét trên bình diện vô thường và không có chủ tể xét trên
bình diện vô ngã. Thế nên, tôn trọng sự sống của súc sanh giới chẳng
khác gì tôn trọng sự sống của nhân giới. Người và sinh vật chỉ khác
biệt nhau về hình thái, về trí huệ, chứ không khác biệt nhau về đau khổ.
Bản năng tự tồn không dành riêng cho loài thượng đẳng sinh vật kiêu ngạo
hay cho loài sinh vật thui chột khả năng tri giác và suy tưởng. Sự khác biệt
về trí tuệ và hình thái, như trên đã nói, nguyên ủy bởi nghiệp lực
và do tâm thức biến hiện mà thôi.
Nhưng cần gì phải đi tìm kết quả của nghiệp lực sau khi thác
sinh. Cần gì phải minh chứng bằng mắt thấy tai nghe rằng: hễ đa ái dục
thì thác sanh làm chim bồ câu hay làm dê; hễ nhiều ích kỷ tham vọng thì
thác sanh làm làm trâu, ngựa; hễ nhiều hung bạo, tàn ác thì thác sanh làm
khỉ đột, hổ mang để mọi người ghê tởm, hoặc làm gà, vịt, heo, bò
cho người ta ăn thịt. Chúng ta há không thấy - dù không phải là nhà tướng
số - trong cuộc sống thường nhật, những hình dáng thể hiện một cá
tính nặng nề, chậm chạp như trâu, những đôi mắt gườm gườm báo
hiệu một tâm hồn lang sói, những nét mặt lanh lợi và
lỳ lợm chứng minh một khả năng gian trá và thích gặm nhắm như chuột,
những đôi mép tráo trở, khẩu Phật tâm xà! Chúng ta há không thấy những bộ
mặt phè phởn trong ô tô nhà lầu, chẳng khác gì hơn những con heo no
đủ, chỉ nghĩ đến bao tử không hề nghe đến tiếng rên la của người
bên cạnh và thây kệ những diễn biến của quốc gia, xã hội. Chúng ta
há không thấy những người dơi, nói hai lưỡi, ở hai nhà, thờ hai
tín ngưỡng. Chúng ta há không thấy những công việc dan díu của những kẻ
nhàn cư vi bất thiện xảy ra hàng ngày như chó
và ngựa
đó sao?
Súc sanh đã ẩn núp trong cốt cách và tâm niệm con người vậy!
Không biết với nền văn minh rực rỡ hiêïn đại, loài người có tự
hào rằng nhân loại ngày nay nhiều nơi vẫn cúi đầu là kiếp trâu ngựa
cho chính con người! Trâu ngựa vì nạn kỳ thị màu da, vì nạn nô lệ,
vì nạn độc tài khát máu. Loài người không biết có hãnh diện hay
không, khi thấy con người ngày nay được lột trần hết cả bản năng
theo những khuynh hướng triết lý phiêu lưu, luôn luôn được kích động bằng
những thứ nghệ thuật mệnh danh là của thời đại, để xác thịt hành
động như loài dê, khỉ. Loài người chắc cũng còn kiêu hãnh với những
nguyên tử, vệ tinh, với những chủ nghĩa khai thác hết nhân lực con người,
biến xã hội trần gian thành thiên đường máu lệ, với những mẫu người
mới, mà lương tri còn độc dữ hơn sư tử, hùm beo.
Nền văn hóa nhân loại chúng ta hôm nay bị nhiễm độc trầm trọng
bởi những khuynh hướng nhiều chủ trí hơn chủ tâm, nhằm cách mệnh khoa
học và triết lý hơn là cách mệnh con người. Trên con đường tiến đến
một nhân cách toàn hảo, một địa vị tối thượng, con người vẫn chưa
cách xa cầm thú là mấy!
Súc sanh giới, nhân giới, Phật giới đều nằm trong tâm niệm, gieo
hạt trong tâm niệm và nảy mầm trong tâm niệm. Xã hội tốt đẹp đòi hỏi
ở những con người tốt đẹp. Chánh báo và Y báo (kẻ tạo nghiệp và thế
giới thụ hưởng của kẻ tạo nghiệp) trên định luật nhân quả, vốn
không rời nhau.
Con người tốt đẹp đó, chỉ có thể tìm thấy ở con người Bi, Trí,
Dũng. Thế quân bình giữa ý chí khối óc, trái tim, mới giúp con người biến
cải xã hội loài người để rời bỏ địa vị súc sanh, tiến đến một
nhân cách toàn thiện.
Nhân giới, cũng như súc sanh giới, theo Phật giáo sự hiện hữu đều
bắt nguồn từ nghiệp lực. Chính nghiệp lực đã làm cho con người có một
hình thái khác sinh vật, một đời sống trí tuệ khác sinh vật và cao hơn
sinh vật. Nhưng điều làm cho con người hãnh diện chưa phải vì con người
có trí tuệ mà vì con người biết thực hiện nhân cách của mình.
Trên bình diện tương đối, theo Phật giáo, nhân cách con người phải
được hoàn bị bằng năm giới. Năm giới đó là : dừng chỉ chém giết,
trộm cắp, tà hạnh, vọng ngữ và rượu chè hút xách để thực hành các
thiện pháp Từ bi, trí huệ.
Vấn đề đau khổ và chiến tranh của nhân loại ngày hôm nay không
phải ngẫu nhiên và tất định. Đó là kết quả hành động của con người
và chỉ có con người mới có thể thay đổi hành động để biến cải xã
hội mà thôi.
Con người chúng ta quả thật sống chưa cách xa thảo mộc và cầm
thú là mấy. Sự hiện hữu của con người do đó cũng chẳng khác gì sự
hiện hữu của sinh vật. Ngoài hai nhịp ăn ngủ, ngủ ăn, ngoài khát vọng
của bản năng, của cảm giác, con người cần phải soi sáng lấy mình, lay
tỉnh lấy mình trong một trạng thái tinh thần phản tỉnh và tự giác.
Ngày nay, quả thật con người luôn luôn khao khát công bằng, nhân ái, vị
tha. Nhưng mỗi công bằng, nhân ái, vị tha được hiểu và thực hiện theo
mỗi cách, theo tư kiến của mình. Kẻ thực hiện nhân ái chỉ cho nhân ái
của mình là cùng đích, nên áp bức, mê hoặc, hoặc dùng tàn bạo để buộc
kẻ khác theo lý tưởng nhân ái của mình. Vì thiên kiến, chủ quan, cố chấp,
niềm thương luôn luôn còn giới hạn, so sánh, còn có kẻ cho và người nhận.
Chỉ khi nào niềm thương được thực hiện trong tinh thần vô ngã và vô tướng
mới không có chủ thể và khách thể, lúc đó vấn đề tranh chấp của nhân
loại mới dập tắt dễ dàng.
Nhân cách của con người cần phải được hoàn bị bằng ý chí tự
do. Với ý chí đó, con người luôn luôn sáng tạo, định đoạt lấy số
phận mình, tự mình giải phóng mình ra khỏi những ràng buộc ngoại giới
và để được tự do tuyệt đối trong việc thể nhập vào thực tại.
Ngày nay, con người được quan niệm theo hai thái độ. Một thái độ
xem con người lệ thuộc vào tâm linh, và một thái độ xem con người là
chủ tể. Một bên, xem tự do chỉ là một ân sủng và hướng dẫn đến tự
do phải là hướng dẫn đến siêu việt, vì tự do nằm trong siêu việt. Đến
nỗi, thực hiện công bằng, nhân ái là thực hiện thiên ý mầu nhiệm, chứ
không thực hiện vì mình, vì ý chí thực hiện. Một bên xem tự do tuyệt
đối là thả lỏng bản năng, thỏa mãn dục vọng và xem tín ngưởng, đạo
đức là chướng ngại vật. Do đó tha nhân trở nên cừu địch và niềm tương
giao thân ái biến thành hận thù. Một bên trách nhiệm trước siêu việt.
Một bên trách nhiệm trước hư vô. Cả hai không nhận thức được một
năng lực vĩ đại của con người. Năng lực đó là năng lực thức biến.
Thượng đế, hư vô, con người và cả vũ trụ làm môi trường cho con người
sinh hoạt, vốn là do sự tự biến và cộng biến của tâm thức. Vì thức
biến, vì nghiệp lực, con người có quyền sáng tạo và thay đổi trần
gian thành địa ngục hoặc thiên đường tùy theo hành động cá nhân và tập
thể.
Nhân cách con người được thể hiện bằng đại bi, đại dũng, thì
cũng bằng đại trí. Giá trị tối thượng của con người còn được đo
lường bằng khả năng trí tuệ để giải phóng mình.
Những giới hạn bi đát của nhân loại muôn thuở và hôm nay vẫn
là giới hạn đau khổ, già yếu, bệnh tật, chiến tranh và chết chóc. Vì
thực tại không thể nào tri thức nỗi trên bình diện khả nghiệm, con người
hôm nay chỉ còn có cầu xin hoặc liều. Cầu xin là nép mình sợ hãi trước
vô biên để tìm nơi bấu víu, mong cầu giải thoát. Liều là thái độ tự
quyết, không chấp nhận siêu việt, nhưng tự quyết một cách vô mục đích,
vô phương hướng, vô nguyên tắc, nên lao mình trong các cuộc phiêu lưu không
bao giờ ngừng nghỉ. Cả hai không nhận thức được giá trị siêu việt của
con người, là con người có thể thay đổi nhận thức phiến diện và trắc
diện của mình thành một đại nhận thức toàn diện, hoàn bị, viên mãn.
Khi con người đã đạt được một đại nhận thức như vậy, con người
đã vươn lên thực tại và hoàn toàn giải phóng. Phật giáo là một đường
lối mầu nhiệm và linh động để con người thực nghiệm, phát huy cùng tột
khả năng nhận thức của mình tùy theo năng lực và ý chí tự quyết.
"Vi nhân nan, thậm nan". Làm người khó, rất khó. Chỉ khi
nào những mẫu người sống vật vờ như cây cỏ, như sinh vật không còn
nữa; chỉ khi nào những mẫu người chỉ nghĩ đến cơm ngon vợ đẹp, ăn
chơi thỏa thích, thây kệ những nỗi đau của láng giềng, những diễn biến
của quốc gia xã hội, biết sống đời sống đích thực trong không khí tương
giao; chỉ khi nào những mẫu người dị đồng trên căn bản đạo đức rời
bỏ những nhận thức chủ quan để hòa đồng trong công cuộc kiến tạo
xã hội; chỉ khi nào những mẫu người siêu hình lột bỏ những cái nhìn
trắc diện và thiên kiến, rời bỏ những lý luận huyền đàm, để phát
huy những khả năng siêu việt trong tinh thần thực nghiệm, thì lúc đó,
giá trị độc đáo và tối thượng của con người mới được thể hiện,
và chỉ khi đó, trong thế giới cộng nghiệp tốt đẹp của xã hội loài
người, con người mới tự hào với danh nghĩa và địa vị của nó.
Sống
trong cuộc đời luôn luôn bị chế ngự bởi đau khổ, tật bệnh, chết chóc,
con người bao giờ cũng muốn vươn lên thực tại để tìm đến vô cùng.
Đằng sau bức tường âm thanh, màu sắc, hương vị mà con người tri giác
được; đằng sau cái thế giới mênh mông nhưng luôn luôn giả hợp và biến
động, con người thông thường vẫn tin rằng còn có một cái gì luôn
luôn vĩnh cữu và bất biến. Cái đó bất lực trong lý giải nhưng có thể
suy niệm và trực nhận. Dù suy niệm và trực nhận sai lầm. Đó là tuyệt
đối, là thái cực, là siêu việt, là Thiên.
Quan niệm Thiên đơn giản là quan niệm Thiên có tự ngã và nhân
cách. Thiên tự tại, tự hữu, hằng hữu. Thiên sáng tạo ra vũ trụ. Thiên
là khởi điểm của nguồn sống. Mọi sinh hoạt thường nhật đều thừa
hành bởi Thiên ý nhiệm mầu. Sống hợp lý, theo quan niệm đó, là phải
phụng sự Thiên, hiến dâng Thiên để được đời đời vinh quang trong
ánh sáng và tình yêu của Thiên bất tử.
Trong triết học, Thiên dần dần xa cách con người và trở nên lạnh
lùng. Thiên không còn liên hệ gì đến cuộc sống, nên dù hiện hữu hoặc
không hiện hữu, Thiên cũng không giải quyết gì được những đau, già, bệnh,
chết và những nỗi bất công của kiếp người. Thiên chỉ còn là một thứ
xa xí phẩm của những bộ óc siêu hình. Ý thức về Thiên, tức là Thiên
bị gói trong ý thức, là sáng tạo phẩm của ý thức, Thiên trở nên đối
tượng khảo sát và giá trị của Thiên trở nên thấp kém. Nếu Thiên tồn
tại ngoài ý thức, thì Thiên xa cách trần gian và có Thiên hoặc không
Thiên cũng không cần phải bàn tới.
Trong đạo học Trung hoa và trong các thuyết duy tâm, Thiên không còn
là một hình ảnh và một nhân cách như hình ảnh và nhân cách con người.
Thiên trở nên một năng lực, một sức chuyển động, một nguyên tắc vận
hành, một lý tính tuyệt đối. Thiên ẩn tàng trong sự sống và vận hành
sự sống. Sống phù hợp với năng lực vận hành đó là tùy thuận Thiên
ý và Thiên mệnh.
Dù hữu ngã hay vô ngã, dù lý tính hay thái cực, dù nhận thức
Thiên bằng lý luận, bằng ý thức hay bằng suy niệm, đối với Phật giáo,
sự nhận thức như vậy vẫn còn phiến diện. Vì phiến diện nên sai lầm.
Tất cả, đối với Phật giáo đều là vọng kiến.
Vũ trụ, trên mặt hiện tượng, chỉ là tổ hợp nhân duyên, của những
lực lượng tác động và phản động chằng chịt, rắc rối, không do
nguyên nhân đơn độc mà kiến lập được. Trên mặt bản thể, sự hiện
hữu của vũ trụ chỉ là những đốm hoa nắng chợt hiện, chợt mất giữa
hư không do lòa mắt mà có. Tuy sinh ra, diệt đi, nhưng dù có thực thể, đâu
có chỗ bắt đầu và đâu có chỗ diệt tận, đâu có khởi điểm nguyên
thủy sáng tạo, đâu có vô cùng hoặc hữu cùng. Hư không vốn bình thản,
tự nhiên. Các hoa đốm lăng xăng sinh diệt là bởi thấy lầm, chứ đâu
có thật hoa đốm.
Vũ trụ và ý thức là hai bình diện luôn luôn tương quan liên hệ.
Ý thức là ý thức một cái gì, một vật nào. Nếu không có đối tượng,
thì ý thức cũng không hiển hiện được. Và trái lại, nếu không có ý
thức, thì đối tượng cũng không hiện hữu. Nên hiện tượng giới và ý
thức giới bản lai vốn không.
Thế nên vũ trụ hiện hữu không phải do Thiên mà chính vì liên hệ
đến ý thức. Và chính ý thức của ta, cùng mọi hoạt động tâm lý, cũng
không phải do Thiên tác thành, mà chính vì tương quan đến đối tượng nên
hiện hữu. Cả hai ý thức lẫn đối tượng, chỉ là ảo ảnh của một
toàn bộ năng lực thức biến vốn không khởi điểm, không cứu cánh,
không giới hạn, không vô cùng, không tương đối, không tuyệt đối, không
hiện hữu, không vô hiện hữu, không có và cũng không không... Nhưng trong
cái không khởi điểm, không có và cũng không không, vì vọng kiến tự soi
lấy nhau, ôm lấy nhau, nương lấy nhau mà cùng với vô cùng, lớn với nhỏ,
thiện với ác, có với không theo tư duy mà xuất hiện. Thiên cũng xuất hiện
từ vọng kiến đó khi con người suy niệm đến chủ thể, khách thể, giới
hạn, vô cùng...
Thiên trong Phật giáo chỉ là những loài sống trong những cảnh giới
tốt đẹp và an lành hơn cảnh giới của con người. Nào là Đâu Suất
thiên, Đao lợi thiên, Tha hóa tự tại thiên v.v... Thiên chỉ là cửa ngõ
cao nhất trong sáu cửa ngõ luân hồi, đều nằm trong sự biến động, giả
hợp. Làm mười thiện nghiệp (*) thì thác sanh làm Thiên, quả thiện nghiệp
đến kỳ chín rụng, nếu không tu, thì sức mạnh vô thường vẫn kéo
trôi lăn vòng sanh tử.
Ngày nay, nhân loại vì vọng kiến - và không biết cách trừ vọng kiến
- nên cúi đầu trước một sức mạnh vô hình mệnh danh là Thiên. Xác nhận
có một thiên lực là đã biết nhìn, biết khám phá, nhưng nhìn và khám
phá chưa thấu đáo, chưa chính xác, như người nhìn sương mù trắng xóa vội
kết luận không gian bản chất vốn là sương mù. Bóng dáng sương mù chưa
đủ để thể hiện bản chất của không gian đích thực.
Nhưng xác nhận có siêu việt còn có ích lợi hơn là vì cuồng vọng
mà tự xưng mình là Thiên, như những kẻ vô thần đang khống chế nhân loại.
Cầu nguyện suông không biến được xã hội đau khổ thành Thiên đàng đã
đành, nhưng dùng máu và bạo lực để dựng thiên đàng trần gian trong
khát vọng vô thần lại càng không thể được.
Thiên đàng hay địa ngục chỉ đo lường nơi ý niệm và hành động.
Quả đất có thể biến thành thiên đàng với điện lực, nguyên tử và cũng
có thể biến thành địa ngục với những năng lực nguy hiểm đó. Đeo kính
đen thì cảnh vật đen, đeo kính hồng thì cảnh vật hồng. Thiên đàng trần
gian chỉ có thể thực hiện trong bình đẳng thắng tương tranh, trong từ
bi thắng hận thù, trong trí tuệ thắng cuồng si vọng tưởng.
(*) Mười thiện nghiệp xin xem kinh "Thập Thiện
nghiệp đạo" sẽ rõ.
VÔ MINH
|^ |
Vấn đề vô minh trong Phật giáo là một vấn đề hết sức phức tạp
và khó lý giải nhất. Bởi vì trong một phạm vi nào đó, vô minh có thể
nhận thức bằng suy tưởng và lý luận, nhưng ở một phạm vi nào khác,
vô minh chỉ có thể trực nhận khi tự mình thể nghiệm lấy chân lý mà
thôi. Có những thứ vô minh của chúng ta, có những thứ vô minh của Bồ
tát. Tùy theo trình độ thật chứng, mà vô minh được tháo gỡ từng lớp
dưới ánh sáng của trí tuệ, như thân cây được tước dần từ thớ vỏ.
Vô minh, trước hết chính là sự ngu muội của trí thức. Với sự
ngu muội đó, chúng ta nhìn hiện tượng giới như những thực thể cố định
và xem tâm linh như một thực thể thường tại, thường hằng. Chúng ta đâu
biết rằng thế giới hiện tượng và thế giới tâm linh đều luôn luôn
biến động, lưu chuyển không ngừng và chỉ là sự kết hợp của một số
yếu tố giả huyễn mà thôi. Chính vì vô minh, vì nhận thức lầm lạc như
thế, mà chúng ta ôm giữ cuộc sống với khát vọng không cùng, và để rồi
mãi mãi trôi lăn trong vòng sanh tử.
Vậy thì vô minh do đâu mà có? Khi hỏi như vậy, thì vô minh chính
là bản thân của câu hỏi, vô minh chính là ý thức, là trạng thái suy tưởng
và khả năng lý luận của chúng ta. Chúng ta đã từng biết rằng ý thức
của chúng ta luôn luôn đều dựa vào các đối tượng của ngoại giới mà
hiện hữu. Ý thức là ý thức của một cái gì, về một đối tượng nào,
chứ không bao giờ ý thức suông. Bởi thế, ý thức tự nó không có thực
thể, chỉ hoạt khởi theo đối tượng bên ngoài, do đó không bao giờ đạt
được thực tại. Sự suy luận nào cũng nằm trong phạm vi ý thức, nên chẳng
có sự suy luận nào đạt đến chân lý. Càng suy luận, con người càng
phiêu lưu lẫn quẩn trong sự ngu muội mà thôi.
Khi chúng ta đặt vấn đề nguyên nhân sơ thủy của vô minh, tức là
chúng ta đã đăït vấn đề liên hệ thời gian. Nhưng thời gian là gì? Thời
gian chẳng qua là một ý niệm, chỉ là sản phẩm của ý thức. Tất cả
đều là giả huyễn, không có thực thể. Cho nên sống theo thời gian, sống
theo sự ngụy tạo của ý thức thì chính là sống trong vô minh rồi đó.
Khi đăït câu hỏi vô minh vì sao mà có, khi truy cứu vô minh bằng sự suy
luận của tri thức, thì chính ngay lúc đó, chúng ta đang hụp lặn trong biển
cả của vô minh.
Nỗi đau khổ và ngu muội của con người là sống bằng những ý niệm
và bị những ý niệm vây phủ: nào không gian với thời gian, nào tốt với
xấu, nào thiện với ác, nào hạnh phúc với đau khổ, nào hữu hạn với
vô cùng... Chúng ta luôn sống trong những ý niệm nhị nguyên đó. Chính vì
những ý niệm nhị nguyên đó, chúng ta không bao giờ trực nhận được thực
tại, trái lại chỉ nhìn thực tại, bóp méo thực tại theo những quan niệm
của chúng ta. Bên cạnh đẹp là đã có xấu, bên cạnh lớn là đã có nhỏ,
bên cạnh tương đối là đã có tuyệt đối, bên cạnh quân tử là đã
có tiểu nhân... Chúng ta đã không rơi về phía bên này thì cũng rơi về
phía bên kia. Chúng ta đã không vượt ra ngoài những ý niệm nhị nguyên để
trực nhận thực tại đã đành, trái lại, vì ôm giữ thế giới của nhị
nguyên mà chúng ta sinh ra biến động đau khổ.
Chỉ khi nào chúng ta thoát khỏi sự mê vọng của ý thức, sự phiêu
lưu của suy luận, sự cố chấp của ý niệm, để đi thẳng vào trung tâm
của thực tại, thì chính lúc đó, chúng ta đã bắt đầu tháo gỡ được
dần màn lưới của vô minh. Tuy chỉ mới tháo gỡ được lớp vỏ bên
ngoài, bởi vì còn bao nhiêu lớp vô minh sâu kín khác nữa, nhưng chúng ta cũng
đã đủ hành lý để đi vào con đường thánh đạo rồi vậy.
ẢO ẢNH
|^ |
Có những người suốt đời chỉ sống bằng ảo ảnh. Ảo ảnh về
những bóng hình xa mờ của quá khứ và ảo ảnh về những dự tưởng ở
tương lai. Thả hồn theo những lớp sương mù của năm tháng, họ quên đi
cả một thực tại đang tràn trề nhựa sống, đang linh động diễn biến
không ngừng.
Nhưng trên tất cả những ảo ảnh của thời gian, sự suy tưởng về
ảo ảnh tự nó đã là một ảo ảnh. Đó là điều mà chúng ta ít khi nghĩ
đến. Sống qua sự hiện tồn của ý thức và suy niệm của ý thức,
chúng ta tưởng rằng mình là thực hữu. Chúng ta đâu biết rằng, đời sống
tâm linh lưu động như dòng thác chảy, và nếu rời đối tượng ngoại giới
ra, ý thức cũng khó lòng tồn tại. Cho nên, dùng đời sống chủ thể để
suy luận, để nhận thức, hay nói khác hơn hoạt động bằng đời sống của
bản ngã, chúng ta đã dựng nên một ảo ảnh qua từng ý niệm, qua từng hơi
thở của chúng ta. Giáo lý Nguyên thủy Phật giáo đã tìm cách phá vỡ tận
cùng cái ảo ma quái và kỳ bí đó bằng đạo lý vô ngã. Nhờ đó, con người
thoát ly được cái ảo giác về đời sống của mình để tìm lấy sự
bình an tuyệt đối.
Nhưng có một ảo ảnh vĩ đại hơn và mê hoặc hơn là ảo ảnh về
một ngoại giới vây phủ quanh ta. Đó là vũ trụ, là cuộc đời, là dòng
sinh hóa nhấp nhô từng giây từng phút. Ta tưởng rằng chúng thực hữu,
nhưng kỳ thật chúng vô thường. Và căn cứ vào sự vô thường, chúng ta
tưởng rằng, tuy biến động không ngừng sự vật tự nó vẫn có đặc tính
và bản chất riêng của nó. Nhưng trái lại, sự vật cũng nương vào sự
hiện tồn của ý thức mà tồn tại. Tất cả đều dựa vào nhau mà hiện
hữu. Cho nên thật là đớn đau và cũng thật là phi lý khi ta đem ảo ảnh
tri thức để đi tìm chân lý qua ảo ảnh của ngoại giới. Lấy ảo ảnh
để soi tìm ảo ảnh, con người sống bằng tất cả sự mê lầm vĩ đại
của con người. Giáo lý đại thừa Phật giáo đã tìm cách phá vỡ cái
ảo ảnh về chủ thể và phá vỡ luôn cái ảo ảnh về đối tượng, để
con người phủ nhận toàn bộ cái ảo giác về thực tại, và từ đó, nhận
chân thực tại được đúng đắn hơn.
Nhưng có lẽ ảo ảnh lớn lao nhất nghìn đời của nhân loại là
cái ảo ảnh về một chân lý tuyệt đối, về một Thượng đế, về một
Niết bàn. Đó là cái khát vọng muôn thuở muôn nơi được dấu mình trong
các chặng đường triết học và được mời gọi trong những chân trời
tôn giáo. Con người từ bỏ cái ảo ảnh chính mình, từ bỏ cái ảo ảnh
của ngoại giới để đi tìm một ảo ảnh siêu việt hơn và chân xác hơn.
Chân xác nhưng vẫn là ảo ảnh. Con người, trong suốt trường kỳ lịch sữ
đã nối liền sự hiện hữu với vô cùng. Nhưng cũng suốt trường kỳ lịch
sữ, trừ vài bậc đại giác , con người không thể nào đạt được kết
quả hoàn bị. Cũng chính vì cái ảo ảnh đó, mà Thượng đế được ngự
trị trên thế gian. Niết bàn được vượt lên trên đau khổ, giáo pháp
được chia là chân đế và tục đế, bờ bên này khác hẳn với bờ bên
kia. Và cũng vì cái ảo ảnh đó, mà khát vọng giải phóng tuyệt đối, tự
do tuyệt đối, an lạc tuyệt đối được đăït ra ở cuối đường của
cuộc sống. Nhưng nếu biết rằng giải phóng tuyệt đối, tự do tuyệt đối,
an lạc tuyệt đối chỉ là những ý tưởng thành hình trong ý niệm, chỉ
là những ảo ảnh của tri thức, thì chẳng ai cần phải khát vọng làm
chi. Đức Thích Ca Mâu Ni, tổ Bồ Đề Đạt Ma, tổ Huệ Năng, chính là những
người đã thoát ly được cái ảo ảnh về sự giải phóng đó. Không phủ
nhận, không chấp nhận; không hữu tâm cũng không vô tâm. Những bậc đại
giác chỉ có sống, hồn nhiên sống, cảm ứng sống, nhưng sống với chân
lý là một. Họ tháo gỡ được cái ảo ảnh về bản ngã, về cuộc đời,
về chân lý, và tháo gỡ luôn sự tháo gỡ để chẳng còn gì để tháo gỡ
nữa.